Phiên chợ độc đáo đầu xuân

By

 
Lang thang đọc báo mạng ngày đầu Xuân Khải Nguyên bắt gặp bài báo: Phiên chợ rơm đầu Xuân vào ngày mùng Bốn Tết còn phiên cuối năm là ngày 30. Là người yêu văn hóa dân gian KN xin sưu tầm về như một nét duyên quê cần lưu giữ giữa thời buổi tưởng như rơm đã nát bươm vì tuốt lúa bằng máy công nghiệp rạ đã đốt ngay từ ruộng vì chất đốt đã dần được thay thế bằng điện ga... Tết đâu chỉ có "cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh/Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ" mà còn lo cọng rơm cho trâu - người bạn của nhà nông ăn Tết. KN xin trân trọng gửi đến bạn đọc:


Phiên chợ độc đáo này ở xã Thanh Lương (huyện Thanh Chương Nghệ An). Mặt hàng duy nhất mà mọi người đến đây để bán mua là những bó rơm vàng óng vì vậy nó có tên là chợ rơm.


Nếu như phiên chợ rơm cuối năm được họp vào sáng 30 Tết thì phiên chợ khai xuân lại được họp từ mùng 4 Tết. Để chuẩn bị "hàng" cho phiên chợ đầu năm từ chiều mùng 3 những thành viên trong gia đình đã phải lựa chọn những cọng rơm vàng thơm và ngon nhất bó thành từng lọn (bó nhỏ) chất lên xe đạp để sáng sớm tinh mơ hôm sau các bà các chị đạp xe ra chợ bán. 

Mở đầu phiên chợ xuân thay cho lời chào hàng như thường lệ là những lời hỏi thăm sức khỏe gia đình con cái và những lời chúc đầu năm mới giữa người bán người mua và giữa bạn hàng với nhau.

Phiên chợ đầu năm chất lượng rơm thường hơn hẳn những phiên chợ trước nên rất ít những lời mặc cả lên xuống và những lời chê bai.

Theo những người đi chợ rơm đầu xuân Canh Dần "hàng" năm nay bán chạy hơn các năm trước. Đang đon đả bán hàng chị Lam ở xã Ngọc Sơn hồ hởi: "Năm nay trời mưa rét lượng rơm cần cho trâu bò nhiều hơn nên chúng tôi bán cũng được đắt hàng. Mỗi lọn rơm giá 8 - 10 nghìn hôm nay không có hàng mà bán".

Ở xe rơm bên cạnh một chị khác cười vang: "Đầu năm cháy rơm chắc là cả năm sẽ được mùa to lắm đây". Cạnh đó mấy cô cậu học trò tranh thủ mang rơm ra chợ cũng cười bẽn lẽn trong những bộ quần áo mới được mua sau phiên chợ rơm năm trước.


Mới gần 10h sáng mà phiên chợ rơm đầu năm Canh Dần đã bắt đầu vãn. Gần 50 xe rơm được bán với giá từ 30-60 nghìn đồng mỗi xe (tùy theo số bó rơm và chất lượng rơm) trong vài giờ đồng hồ đã khiến cho người bán kẻ mua đều rộn tiếng cười. Người vui cười vì mở hàng may mắn người thì mua chọn được nhiều rơm ngon cho trâu bò trong dịp tết.

(Sưu tầm: http://www.vnexpress.net/GL/Xa-hoi/2010/02/3BA18DB1/ )

More...

Mùa xuân đầu tiên

By




TẾT HÀ NỘI XƯA
Dương Trung Quốc

Không biết vì hoàn cảnh hay vì quan niệm mà cứ nói đến Tết là phổ biến nhất vẫn là "ăn Tết" rồi sau đó mới đến "chơi Tết". Cái nhu cầu "ăn" hiển hiện khắp nơi từ "ăn học" đến "ăn chơi" từ "ăn nhậu" đến "ăn giỗ" rồi cả đến... "ăn tiền" "ăn quịt" và... "ăn nằm".


Nhưng cũng không hẳn là như vậy. Mấy tấm ảnh sinh hoạt nơi công cộng nhất là cái chợ của Hà Nội xưa cũng cho thấy con người ngoài nhu cầu mua sắm đồ ăn thức mặc cho ngày Tết cũng còn quan tâm đến những nhu cầu tinh thần như một nhành hoa một tấm tranh hay một đôi câu đối.

Ở Hà Nội xưa chợ hoa lớn nhất và có truyền thống hơn cả là ở Chợ Đồng Xuân. Khu bán hoa trong chợ không đủ lan sang phía cổng chợ và theo Hàng Khoai tràn dần sang Cống Chéo Hàng Lược rồi kết với Hàng Mã bán đồ thờ cúng và Hàng Đường bán bánh mứt kẹo.

Lác đác có sạp bán tranh quê đưa từ Đông Hồ bên Kinh Bắc sang hay tranh phố có của hàng cửa hiệu ở Hàng Trống. Còn các ông đồ thì trải chiếu ở phía cuối phố Hàng Bồ nơi có một thời còn bán "tranh Tàu" để (không gọi là "bán" mà là) "cho" chữ. Vì không ai đi "mua" chứ mà tuy có trả tiền nhưng vẫn nói là "xin chữ"...



Chợ Đồng Xuân ngày tết và hoa bán trước cổng chợ



Thủy tiên cúc và quất xanh bán trong chợ
 


Chợ hoa đào trên phố Hàng Khoai
 


Phố Hàng Khoai trước tết
 


Bán tranh Đông Hồ tại chợ
 


Bán tranh Đông Hồ tại nhà




Và bán tranh trên phố Hàng Trống



Ông đồ trên phố Hàng Bồ



More...

Mùa xuân yêu thương

By

 

 


 

MÙA XUÂN YÊU THƯƠNG

Xuân đã đến muôn nơi
Với bao gọi mời
Xin ta hãy yêu đời
Dù đời còn bập bềnh chơi vơi.

Ôi trong nắng xuân tươi
Thấy sao tuyệt vời
Ta xin chúc mỗi người
Nụ cười ngập tràn trên môi

Hạnh phúc sẽ luôn còn mãi
Và mang yêu thương trở lại
Ngày mới cũng đang dần tới
Mùa xuân xua tan dỗi hờn

Cùng bước tới con đường ấy
Nơi yêu thương nồng cháy

Xin hãy đến bên em
Khi nắng xuân tràn về
Xin hãy giữ câu thề

Trọn đời mình hoài bên nhau.

More...

Ta ngồi thiền trước mắc nợ trả vay

By



Cuối năm
Ta cứ lục tìm trong trí nhớ
Nợ nần ai thì trả
Kẻo Tết đến Xuân về lại "giông".

Một món nợ suốt đời người - ta có trả được không?
Ấy là nợ cuộc đời nợ em yêu nợ cha nợ mẹ.
Đời cho ta nhiều thế!
Em yêu ta nhiều thế!
Cha mẹ cho ta nhiều nhiều hơn thế!
Lấy gì trả được đây?

Thôi hãy sống với nhau như chén nước đầy
Sóng sánh yêu thương bao dung thiện cảm
Hớp ngụm nước mát trong giữa sa mạc cháy khô xin người ơi đừng lãnh đạm
Để biết cuộc đời là những trả vay.

Ta trả ơn đời bằng những vần thơ say
Ta trả ơn em bằng tình yêu thủy chung trong sáng
Ta trả ơn mẹ ơn cha bằng hình hài ta: vẹn nguyên tinh khôi như ngày đầu ta chui ra từ bụng mẹ
Hãy cứ là ta thôi nhé!
Để trước thềm năm mới: ta ngồi thiền với mắc nợ trả vay

Để ta sống tốt hơn giữa cuộc đời này...

More...

KHÚC HÁT SÔNG QUÊ một bài thơ tôi yêu và mến

By

 
 
 
Tôi nhớ lời thầy giáo dạy văn những năm PTTH khi giảng bài thơ BÁC ƠI của TỐ HỮU trong đó có câu thơ: "Mong manh áo vải hồn muôn trượng/Hơn tượng đồng phơi những lối mòn""Cuộc đời thanh bạch chẳng vàng son". Có thể không là nguyên văn nhưng đại ý: "... trước tượng đồng sự bào mòn của thời gian gần như là bất lực trước vĩ nhân ta thấy ta nhỏ bé vô cùng các em ạ! Bác Hồ của chúng ta là thế: một vị cha sống cuộc đời thanh bạch mà vĩ đại nhường nào..."
 
Hôm nay lúc này... tôi nhớ về lời thầy dạy nhưng với một góc nhìn khác; phải chăng đây là một sự khúc xạ của kiến thức mà lũ học trò chúng tôi đã tiếp thu được từ trên ghế nhà trường? KHÚC HÁT SÔNG QUÊ như bức tượng đồng kia: sự hoàn hảo thành công hay còn là sự sâu lắng đẹp đến mọi góc cạnh của hình hài khiến bao lần tôi cứ dự định dự cảm rằng sẽ viết và viết nên  những cảm xúc của mình trước một bài thơ mà tôi đã đi tìm... Hành trình đi tìm bài thơ nguyên tác ấy được bắt đầu từ khi tôi về với vnweblogs quen ra vào - đọc xem ở blog Nguyễn Trọng Tạo - một nhạc sỹ tài danh với con mắt và thiện cảm của một thanh niên mới lớn như tôi. Nguyễn Trọng Tạo đến và ở lại trong sự mến mộ của tôi từ ca khúc KHÚC HÁT SÔNG QUÊ và với tôi: Anh Thơ là nữ ca sỹ thể hiện thành công nhất đằm nhất và sâu lắng nhất... ca khúc đó.

Tôi là cái thằng: hễ cứ bắt gặp ca khúc phổ thơ nào là lụi hụi đi tìm cho bằng được bài thơ nguyên gốc. Bởi trong tôi mỗi ngày như đang dần hình thành hình hài một cây viết linh tinh dớ dẩn khập khiễng. Thơ tôi - thứ thơ trải lòng cứ ồng ộc tuôn chảy như kiểu người ta nghiêng chai để rót nước mắm. Tôi định nghĩa "thơ" như là một sự chiết suất một sự trải lòng tuồng như chẳng hề có cái gọi là lao động nghệ thuật. Bởi lao động là có sự ý thức sự chủ động; còn với thơ - vô thức 100% chẳng tư duy nhiều gì cả   mạch thơ cứ chảy tràn và viết thơ là động tác đưa tay ra hứng tìm thứ gì đó như là vật dụng để hứng đựng mà thôi! Vì thế khi bắt gặp nick name Lê Huy Mậu trên vnweblogs tôi đã mò mẫm tìm trong blog của anh. Và tôi đã tìm thấy KHÚC HÁT SÔNG QUÊ  trong một góc riêng rất khiên tốn ở blog Lê Huy Mậu. Cũng thú thật ngày ấy tôi chưa biết tra google thành thạo như bây giờ. Hì kể cũng buồn cười cái thằng KN ngộc nghệch ngốc nghếch IT đến thế!?

Trở lại với KHÚC HÁT SÔNG QUÊ. Tôi xin trân trọng gửi đăng trọn vẹn bài thơ này:

KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
Lê Huy Mậu

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...

Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...

Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi.

lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...

Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...

Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.

Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...

Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...

(Trích trường ca THỜI GIAN KHẮC KHOẢI của nhà thơ Lê Huy Mậu)

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo ca sĩ Anh Thơ và nhà thơ Lê Huy Mậu

Đấy hình như tôi lại trở về cảm xúc của một kẻ đang loay hoay nhìn ngắm bức tượng đồng. mà người ngắm thấy mình quá nhỏ bé khi đứng ngay sát dưới chân tượng. Tôi sẽ chầm chậm lùi lại và lùi ra xa đủ xa để ngắm toàn cảnh... Có lẽ với cách ấy tôi mới có được những mạo muội những chấm phá về bức tượng đồng mà tôi yêu mến nể phục này.

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...


Phải là đứa con rất yêu quê rất yêu mẹ thì mới viết nên những câu thơ bình dị như thế! Câu thơ đọc lên mà như hát như nũng nịu mẹ hiền nhưng đầy ắp và chan chứa tình yêu thương rõ mồn một hành động cử chỉ thật đáng yêu. Lối ví von quả là tài tình. Hình như trời ban phát cho Lê Huy Mậu khi anh gõ ra những câu thơ chất chứa hình ảnh đẹp. Úp mặt vào sông quê vào cái thời khắc đã  qua nửa đời người lang bạt kỳ hồ làm nhắc nhớ thuở còn thơ đã từng úp mặt vào lòng mẹ để tìm sự vỗ về sự chở che sự âu yếm tình cảm cả những tức tưởi khi bị ai đó mắng oan hay là biểu hiện của nhớ nhung thèm hơi hướm của mẹ mà đích thực là thèm nhớ mùi mồ hôi ngai ngái mùi hơi sữa thơm thơm của mẹ từ ngày còn bú mớm. Lạ thật đấy có mấy ai lại không ghì ôm đối diện nhau đâu. Với mẹ được vục đầu vào ngực mẹ dù có là vĩ nhân hay kẻ tội đồ dẫu tóc để chỏm còn xanh hay đã điểm sương (hoa râm) hay đã bạc trắng dẫu đã lên chức ông bà cha mẹ... thì trước mẹ kính yêu trong lòng mẹ sinh ra ta vẫn như đứa trẻ: bé bỏng và rất mực ngoan hiền. Nghĩ và viết thế là để muốn tỏ bày một cảm xúc nể phục và thầm ghen với nhà thơ Lê Huy Mậu khi anh bắt đầu một trường ca không ngắn nhưng đủ dài để hứng đựng rồi cho ra một cảm xúc thơ cho mẹ cho quê đẹp và dung dị đến thế. Anh viết mà như kể:

Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...


... mà kể thì thật lạ: người ta thường đi từ bao quát đến cái cụ thể từ vi mô đến vĩ mô từ xa đến gần từ không gian rộng đến hình ảnh thật gần thật rõ. Lê Huy Mậu thì ngược lại: anh viết về dòng sông c
hẳng đôi bờ chẳng trong đục nông sâu không là những con thuyền những tấm chài quãng lưới... anh bắt đầu từ hạt phù sa mà hạt phù sa bên bờ sông quê vào một ngày tháng Chạp. Trong dân gian tháng Chạp được nhắc đến là "tháng củ mật" - tháng bộn bề lo toan việc đồng áng: tranh thủ cày bừa be bờ tát nước càn ruộng cho phẳng phiu để ra Giêng ấm áp chỉ việc nhổ mạ  mà cấy lúa rồi trồng khoai trồng đậu trồng cà... Đặc biệt khâu làm mạ gieo mạ chăm mạ giữa thời tiết lạnh cuối đông đề phòng cái rét nàng Bân mưa phùn gió bấc lúc Giêng Hai thì bộn bề là phải. Tháng Chạp nước sông thường cạn nên người nông dân đã vất vả lại càng vất vả nhiều hơn phải lắng lo cho cả mùa vụ sau để có một tháng ăn chơi trong tháng Giêng đỡ phải lo nghĩ nhiều!

Tôi đọc câu thơ bắt gặp hình ảnh người đàn ông tuổi đã trung niên - đứa con xa quê nay được trở về mà là về quê để ăn Tết. Người con ấy hẳn đã qua đò và đã bước xuống đò bên bến sông quê. Anh cúi nhặt dẫu chỉ là tình cờ khi cát vướng vào đôi dép của mình. Sự bắt gặp hoàn toàn vô tình chứ không cố ý giữa bàn tay và những hạt cát để Lê Huy Mậu có được một hình ảnh thơ gợi cảm sâu sắc đến nhường nào. "Ôi phù sa/những cá thể tự do trong hành trình của đất". Tôi chắc anh đang ví mình như hạt cát - hạt phù sa ấy chăng? Xa quê xa mẹ xa con sông quê đến quá nửa đời người; một sự kiến tạo rất tự nhiên của thiên nhiên làm hình thành nên đôi bờ con sông bên lở bên bồi hay là sự lắng đọng của phù sa nơi cửa biển. Những gò những bãi những hòn đảo chìm đảo nổi ngay cửa biển có phải vì thế mà sinh thành mà trường hữu?

có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh


Tôi bỗng mỉm cười với cái tài đọc thơ mà cứ rất hay xâu chuỗi những hình ảnh thơ của mình. Có lẽ vì thế mà bạn bè thường bảo tôi: KN là người hay đọc chậm đọc kỹ là vì thế?

Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi


Đúng là một câu chuyện kể. Mỗi dòng thơ khổ thơ như những trang dòng nhật trình cho mỗi bước đi chầm chậm của nhà thơ khi chạm chân vào đất quê. Có lẽ đồng đất bãi màu nơi quê hương anh trồng nhiều ớt? Tôi chưa có dịp để hỏi anh về điều này; mà nếu không thì tại sao anh lại chọn quả ớt để  ra thơ hay là để nhắc nhớ điều gì ở đây nhỉ? Nhưng thôi sẽ còn dịp... Vì tôi đang say với lối thơ đằm thắm chất chứa nhiều nội tâm của anh. Hình như ở độ tuổi trung niên con người ta mới nhiều suy ngẫm? Đó như là độ chín của trái độ chững chạc của tuổi trưởng thành?!
Hay do tâm trạng xa nhà xa quê lâu ngày nên khi trở về thường là gợi nhớ quá nhiều những tâm tư chăng? Chạm hạt cát - hạt phù sa mà nhớ đến tận đầu non về tận cuối bể nhìn trái ớt mà nhớ thuở hái lượm của tổ tiên. Lê Huy Mậu thật lạ và rất thành công để người đọc khi đọc những câu thơ này càng nhiều liên tưởng nhiều suy tưởng về sự hình thành sự sinh thành và cả nguồn cội.

Tôi rất thích những câu thơ:


lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...


và đặc biệt là 2 câu thơ cuối của khổ thơ này: "ta và đất kết giao/lấy dòng sông làm lời thề non nước...". Một đất nước có trăm ngàn con sông một đất nước trải qua bao cuộc kháng chiến mà chiến thắng nào cũng luôn gắn với địa danh những con sông những rạch ngầm những  bến bờ lau sậy bên những con sông trên mọi miền Tổ quốc. Nên quá đúng khi Lê Huy Mậu viết: "lấy dòng sông làm lời thề non nước". Bao trai tráng lên đường tòng quân giết giặc bảo vệ xóm làng; bao phụ nữ tiễn người thương trên những bến sông quê? Chắc không có sử gia nào thống kê được hết những cuộc chia ly "chói ngời" như thế? Và lời thề non nước ấy chắc chắn cũng thật khó đếm xuể. Tổ quốc quê hương gia đình và sức trai cùng nỗi nhớ niềm thương với bao sự đợi chờ của những phụ nữ Việt Nam trong khắc khoải... sự kết giao ấy chính là để hồi sinh mà sự hồi sinh được nhà thơ gói gọn trong câu thơ hình ảnh thơ thật đẹp:


nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...


Nói là sự hồi sinh tái sinh hay sinh sôi ở đây đều đúng cả. Hình ảnh "rờ rỡ má hồng trẻ thơ" có lẽ là hình ảnh đẹp vẹn nguyên tinh khôi và hạnh phúc nhất trong những hình ảnh về con người.
Tôi nhớ câu thơ "Ngày mỗi đến buổi đầu sinh nở/Mỗi ngày vui một quả trứng hồng" của nhà thơ Tố Hữu. Đấy là mỗi ngày vui còn cả cuộc đời cả đời người thì sự ấm êm của hạnh phúc chính là nụ cười của bé thơ của trẻ thơ có đúng không nhỉ?!

Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương


Đúng rồi sông Lam hay sông La cũng đều là con sông Cả - con sông đằm tình người xứ Nghệ - con sông cùng với núi Hồng làm nên một vùng văn hóa chẳng thể lẫn vào đâu dù vùng văn hóa ấy chẳng quá rộng cũng chẳng thêm chẳng bớt được địa vực hay địa dư nào. Thanh Hóa không thuộc xứ Nghệ dẫu kế bên về phía Bắc nhưng tự mình làm nên xứ Thanh; về phía Nam thì là xứ Quảng - chẳng thể pha lẫn hay giao hòa với xứ Nghệ. Những câu thơ rất thật: "ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương" nhưng mang tầm khái quát lớn mà chắc chắn khi anh viết anh không ý thức được bài thơ này anh viết cho số đông anh chỉ tâm sự một tình yêu đơn giản là thế! Anh viết cho anh nhưng hễ ai soi vào cũng thấy mình trong đó bởi con sông thường là hình ảnh gợi nhớ nhất về quê hương về mẹ.


tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.


Bắt gặp một năm hằng số thời gian trong thơ Lê Huy Mậu khi anh viết về con sông quê hương về những kỷ niệm đẹp những hình ảnh trải theo cuộc đời một con người từ khi sinh ra lớn lên và trưởng thành. Không lẫn với NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG của Tế Hanh nhưng như là giữa hai tác giả hai bài thơ có mối giao hòa.
Tôi thấy lạ là khi ngắm chân dung con người ánh mắt nhìn của Lê Huy Mậu thường hướng rọi về đôi má anh dừng lại ở đấy để thấy những ánh hồng sự tươi vui tươi rói... Chắc con gái xứ Nghệ đẹp? Hay Lê Huy Mậu đa tình theo kiểu hiền ngoan mà không nhìn vào đâu đó nơi kia nơi khác nhỉ? Cá sông và má hồng con gái chắc chắn là rất ngon rất đẹp trong tâm thức những chàng trai xứ Nghệ khi nghĩ về quê hương? Tôi thì tôi cho là như thế đấy!

Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm


Đọc thơ rồi nghe hát; nghe hát rồi lại đọc thơ... Hình ảnh chiếc bánh đa vừng hình ảnh những cô cậu bé con ngồi trên triền đê đợi trông dáng mẹ đi chợ về để vòi quà chắc chắn không ai viết thành công bằng Lê Huy Mậu.
Mà như đến nay chỉ có anh viết được như thế và có lẽ về sau chẳng ai dám viết về hình ảnh đó nữa vì sợ vi phạm bản quyền (!) thì ít mà sợ thua đau thì nhiều bởi thật khó để sánh bằng. Giờ đây mỗi khi nhớ về tuổi thơ không ai là không nhớ những phút giây ngóng mẹ đi chợ về thể nào chẳng có quà dù là quà chỉ một xu dẫu là trẻ con nông thôn hay trẻ con thành thị đều thế như thế!

 
Nguyễn Trọng Tạo đã rất thành công khi phổ nhạc cho bài thơ này.
Tên anh gắn với KHÚC HÁT SÔNG QUÊ và vượt qua cả không gian thời gian để ai ai nhớ quê đều thuộc lòng bài hát hơn cả thuộc bảng  cửu chương hay bảng chữ cái tiếng Việt. Nhưng có lẽ anh cũng như chúng ta đã rất biết: loại hình âm nhạc không thể ôm cho trọn vẹn hết được một bài thơ hay của tác giả thơ Lê Huy Mậu.

Tôi thích cái kết của khổ thơ:

sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm


Chỉ một xu bánh đa mà sao ta không chỉ ngoan một ngày ngoan một năm có lẽ ngoan cả một đời.
"Ngoan" ở đây là yêu nhớ tuổi thơ yêu nhớ quê hương rộng hơn lớn hơn là tình yêu đất nước yêu Tổ quốc mình - một tình yêu được lấy làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Ngày bé thì chăm ngoan học giỏi lớn lên thì thành người có ích đơn giản vậy thôi! "Ngoan" ở đây còn là yêu kính mẹ cha ông bà anh em họ mạc làng xóm. Rộng hơn là tình yêu cộng đồng yêu đồng bào yêu nhân loại. Đó là một tình yêu nhân ái bao la. Vậy mà khởi nguồn cho tình yêu lớn ấy chỉ là từ một xu bánh đa vừng xu bánh đa ấy là tình yêu thương của mẹ cha của ông bà là sự dạy dỗ của ông bà của mẹ cha. Câu thơ hình ảnh thơ làm ta trào dâng những xúc cảm; càng đọc càng suy ngẫm càng thấy hay thấy đẹp thấy sâu sắc và ý nghĩa vô cùng; khiến ta tự thấy ta có gì chưa phải chưa ngoan thì tự nhắc phải ngoan hơn sống tốt hơn vị tha nhân ái và biết tu dưỡng nhiều hơn về bản thân. Thơ là thế văn học là thế tính giáo dục cứ tự thân mà phát tiết chẳng cần hô khẩu hiệu chẳng lên gân càng không giơ nắm tay thề mà sao cứ thẩm thấu dội ngấm đến tận tâm thức tận ý thức tư duy con người.

ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...


Những câu thơ nhẹ nhàng điềm đạm mang chất tự sự nhưng lại có sức chuyển tải sâu sắc nội hàm của sự sẻ chia yêu thương đùm bọc: r
ửa rau biết dành phần cho cá cùng được ăn mổ lợn biết ném ra những bạc nhạc bèo nhèo cho chim trời cùng hưởng triền cải ven sông trổ hoa vàng là để  ban tặng cho lũ ong đi hút mật; cấy lúa gieo trồng nên hạt thóc để có bát cơm dẻo cơm thơm nhưng vẫn biết dành phần rơm rạ cho trâu bò có cái mà ăn... Đức nhân nghĩa của người Việt ta là thế! Bỗng tôi nhớ câu thơ "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo" trong BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO của Ức Trai. Dẫu áo vải chân đất dẫu nghèo đến rớt cả mùng tơi mà sao nhân nghĩa cao cả đến thế yêu thương đến thế!?

Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...


Khổ thơ kết trở về với con sông quê hương. Thật đúng như tác giả đã muốn gửi gắm một tình yêu cho dòng sông Cả - sông Mẹ.
Cây đa bến nước sân đình luôn là những hình ảnh trong không gian kiến trúc truyền thống của làng xã rất đáng để lưu giữ trong tâm khảm và ký ức của ta về quê hương về nơi chôn rau cắt rốn. Thuở xưa khi còn tồng ngồng cả lũ với nhau con trai con gái cái thuở "đuổi bướm cạnh cầu ao" cứ lao ra bến sông là trút bỏ thật nhanh áo quần mà lao xuống tắm táp vẫy vùng. Chẳng biết xấu hổ chẳng hề che đậy cứ ngụp lặn hồn nhiên vô tư đến lạ! "Phía dưới trâu đằm/Phía trên ta tắm" - cha mẹ ông bà có mắng thì cũng chỉ là mắng yêu vì ngày xưa ông bà cha mẹ cũng tắm truồng như thế còn gì? Đó là một hình ảnh đẹp một cuộc sống thanh bình; đó cũng là cái đích để ta vươn tới ta vì nó mà sống mà chiến đấu và học tập và giữ gìn. "Sao ngày xưa yên ổn quá chừng" có lẽ từ "yên ổn" là từ bao hàm đầy đủ nhất về khái niệm HÒA BÌNH chăng? "Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng" dòng sông ấy là quê hương là mẹ là cha là ông bà là chính chúng ta. Hơn hết đó là một tình yêu đi cùng năm tháng theo ta cùng năm tháng!

More...

Sự cộng hưởng tương tác để nhắc nhớ một bài thơ hay

By

 



Thể hiện: Minh Thu

Bài thơ nguyên tác: HÁT VU VƠ
Nguyễn Lâm Cúc

Trần gian một chuyến rong chơi
Thấy trăng giữa chợ đông người vỗ tay
Mua vui một cuộc rõ hài
Gọi trăng trăng khẽ chau mày rồi thôi...

Gõ sênh vỗ phách tôi cười
Nghêu ngao cất giọng hát lời bốn phương

Đó đường đây đường kia đường
Mà sao phải cứ đoạn trường bước đi
Buốt làm sao câu trở về
Có bằng ngồi tạm vỉa hè mà chơi...

Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy... chỉ bờ lau thưa




Thể hiện: Ngọc Quỳnh






Những cộng hưởng tương tác để nhắc nhớ một bài thơ hay
Khải Nguyên


Đây không phải là ca khúc anh Trung Kim mới sáng tác không ít bạn bè kỳ cựu của sân chơi này đã cùng thưởng thức giọng hát của anh Minh Thu thể hiện trên blog chị NLC từ năm 2007.

Có thể nói: anh Trung Kim đã rất thành công khi chọn giai điệu mang âm hưởng ca trù pha làn điệu chèo cổ - chèo có lối diễn ước lệ ở sân đình để làm chủ đạo khi anh phổ nhạc cho một bài thơ có nội dung vừa có tính bi vừa có tính hài của tác giả Nguyễn Lâm Cúc. HÁT VU VƠ mang dấu ấn riêng của Nguyễn Lâm Cúc phong cách  riêng "ĐÃI TRĂNG" gần như xuyên suốt nhiều sáng tác của NGUYỄN LÂM CÚC.  Tác giả hòa âm phối khí như đã đọc được điều này nên tạo một hợp thể những thanh âm khá phù hợp để dành cho nữ ca sĩ Ngọc Quỳnh có đất để diễn. Tuy nhiên Ngọc Quỳnh diễn chỉ ở mức tương đối thành công bởi chất giọng chị khá già dặn ít biến láy chưa thật linh hoạt. Nếu chọn được một chất giọng trẻ hơn sắc hơn đỏng đảnh hơn nhấm nhẳng hơn có lẽ sẽ thành công hơn rất nhiều. KN đang hình dung: một ca khúc mang âm hưởng chèo sân đình nếu được ghi hình nữ nghệ sĩ trong trang phục truyền thống tay cầm quạt mà diễn cùng các nhạc công trống sênh phách ngả nghiêng nghiêng ngả khi thể hiện thì phải nói là rất tuyệt. Tất nhiên ngoài phần hòa âm rất cần một đạo điễn sân khấu khá chuyên nghiệp mới thành công được bởi tính bi và tính hài trong HÁT VU VƠ của chị NLC thể hiện rất rõ. Bi nhiều hơn hài hài chỉ là thứ để nâng bi khắc bi mà thôi.

KN rất buồn và tiếc khi ca sỹ Ngọc Quỳnh đã hát sai lời mà lại là sai cơ bản: "Mua vui một cuộc rõ hài" lại hát thành "Mua vui một cuộc rõ dài" thì... thật là thất vọng cho tác giả thơ và người nghe. Thêm nữa: từ "sênh" lại hát thành "sanh"."Sênh" là một nhạc cụ truyền thống   hát là "sanh" thì ra... sanh chảo mất rồi!!! KN rất ấn tượng với chất giọng của anh Minh Thu. Ít nhất là cho đến lúc này khi chưa có ai ngoài Ngọc Quỳnh và  Minh Thu thì Minh Thu thể hiện thành công hơn. Có lẽ bởi họ (anh Minh Thu và anh Trung Kim) là hai nhạc sĩ đồng thời là hai người bạn; có lẽ họ được đàm đạo bên nhau khá nhiều trước khi thu âm nên sự thể hiện của Minh Thu rất gần và sát với ý tưởng anh có những cải biên rất thú vị trong câu hát kết: Gõ sênh vỗ phách tôi cười... trần gian. Đọc bản ký âm KN phát hiện thấy Minh Thu tự ý thêm  từ "trần gian" trong câu hát cuối dẫu chỉ một từ thôi nhưng lại lột tả trọn vẹn cái hồn cái tứ cái tình cái bi của bài thơ của tác giả thơ muốn gửi gắm.

KN cũng hơi tiếc cho anh TK khi anh viết nốt nhạc cho từ "LẤT" phất. Chưa ổn lắm vì anh đã bám sát bài thơ để viết nhạc chứ không phải phổ nhạc từ ý thơ đó là một sự lựa chọn khôn ngoan và rất thành công mà lời bài thơ của chị NLC thì thật khó ai có thể viết khác đi được:


Tình ơi! Nghĩa ơi! Thương ơi!
Bao lần ngoảnh lại gọi người khản khô
Tưởng sông rồi lại tưởng đò
Những lất phất ấy... chỉ bờ lau thưa.

Vậy nên rất cần chọn một nốt luyến khoáng đạt hơn ở ca từ ấy để khi ca sĩ thể hiện sẽ được rõ chữ tròn đầy. Nếu để như hiện nay ca sĩ dù có cố gắng nhấn nhá thế nào cũng khó mà thanh thoát hơn được. Mà từ đó lại rất hay nó chính là điểm nhấn cho những hệ lụy của sự mua vui nỗi buồn trong ý thơ ở bài thơ của Nguyễn Lâm Cúc bởi đọc lên nhận ra sự thất vọng ê chề...

Cuối cùng thì KN muốn tham góp với tác giả thơ sau là với tác giả nhạc: nhưng có lẽ  với tác giả thơ thì  phần nhiều vì chị đã nhầm khi viết câu thơ: Gõ sênh vỗ phách tôi cười.

Sênh và phách là 2 nhạc cụ truyền thống của âm nhạc Việt Nam trong dàn nhạc đệm cho hát ả đào (hát ca trù) và cả hát chèo. SÊNH là nhạc cụ tự thân ngân vang; sênh có sênh tiền còn gọi là phách sâu tiền (hay quán tiền phách) với động tác biểu diễn là gõ quẹt và lắc khá linh hoạt. Có lẽ đây là thứ nhạc cụ mà chị NLC nhắc đến vì sênh còn là cách gọi nữa của một phần nhạc cụ của phách đó là đế được làm bằng gỗ hoặc tre cho phách gõ lên.

Còn PHÁCH là nhạc cụ gõ chứ không vỗ vỗ chỉ dành cho trống chứ không cho phách. Cách gõ phách là dùng hai cái que nhập lại thì tròn nhưng khi tách ra thì có phía tròn phía dẹt; khi đánh phía dẹt xuống đòn gõ là "lá phách"; đánh phía tròn xuống là "tay ba" khi gõ phách thì phải một tay thấp một tay cao tương đương một tiếng nhẹ một tiếng mạnh và một tiếng đục một tiếng trong. Nếu gõ hai tiếng cùng đánh trong một lúc gọi là "chắc". Phách làm nhiệm vụ giữ nhịp cho dàn nhạc cho người múa người hát. Với miền Trung trong ca Huế thì phách được làm bằng gỗ gọi là sênh người ta tự gõ sênh để cầm nhịp. Bản thân trong dàn nhạc mỗi nhạc cụ đã làm nổi lên tính bi hài của lối diễn của lời ca của làn điệu. Sênh tiền làm nên sự hài phách làm ghìm sự hài để ngắt đẩy khắc cái bi tôn cái bi. Bởi thế không nên viết VỖ PHÁCH. Như thế sẽ là sai cơ bản.


Về phần hòa âm phối khí: giá như có thêm một nhạc cụ nữa trong bộ gõ là trống (dạng trống chầu trống chiến) trống nhỏ dễ đảo nhịp chứ không là trống cái trống to thì hoàn hảo.

Tham góp là để nhìn nhận và đánh giá tác phẩm. Tất nhiên có những tham góp chưa hẳn đã đúng nhưng nhiều ít cũng xuất phát bởi tấm lòng sự chân tình cởi mở thẳng thắn mang tính xây dựng. Mong anh TK và chị NLC cùng các nhạc sĩ ca sĩ suy ngẫm chút ý mọn này để cùng nhau nhìn lại tác phẩm để làm sao các tác phẩm mỗi ngày một hoàn chỉnh bằng chính những cố gắng của mình bằng những tham góp có lý có tình từ bè bạn từ người đọc người nghe.


Thêm một lần chúc mừng chị Nguyễn Lâm Cúc và anh Trung Kim với ca khúc HÁT VU VƠ! KN đánh giá cao sáng tác này với lối thể hiện cười mà nhăn nhó cười mà khắc khoải buồn lo... Có lẽ KN sẽ dành một entry khác cho cảm nhận bài thơ HÁT VU VƠ. Đúng là trong sáng tác nhạc từ thơ: thơ làm nền cảm xúc cho nhạc; nhạc làm thăng hoa những nét đẹp của thơ; nhạc sĩ hòa âm phối khí cùng ca sĩ và dàn nhạc góp phần làm nên thành công chung của tác phẩm. Tất cả cùng làm đẹp nên tác phẩm văn học nghệ thuật. Liệu có sự cộng hưởng tương tác nào đáng yêu và ý nghĩa hơn thế nữa không?

Chúng ta - những khán thính giả hãy lắng nghe nhận xét đánh giá... để trân trọng và tận hưởng sâu sắc hơn tiếng lòng tiếng thơ tiếng hát được cất lên từ những rung động của con tim những nghệ sỹ - văn nghệ sỹ./.

More...

Chầm chậm thôi để nhớ những riêng mang

By




Chầm chậm thôi Em
Chầm chậm thôi Người
Chầm chậm để lắng nghe để rồi biết
Chầm chậm để nhận ra những gì da diết
Sau những thanh âm những con chữ... kia.

Một lần Ba nhắc anh: "Con nhìn đời kỹ thế làm gì..."
Hơn một lần anh tự nhủ mình: đúng vậy
chậm chậm thôi đấy
kẻo lại... khổ lại đau.

Nhưng không. Chầm chậm làm anh nhận ra những ký ức không màu
Nhận ra tấm chân tình bè bạn
Nhận ra trong miếng cơm có hạt sạn
Trong cái thật có cả cái dối gian.

Điều đó không làm anh thấy bẽ bàng
Điều đó giúp anh nhận ra cuộc đời không chỉ mây bay gió lộng
Dưới lòng biển tưởng như ngút mắt xa xanh kia
đâu chỉ bình yên mà ôm chứa những ồn ào khua động
của những dòng hải lưu.

Tận sâu thẳm những câu thơ những câu hát nát nhàu
Là chữ TÂM chữ NHÂN là MỒ HÔI là NƯỚC MẮT
Là CUỘC ĐỜI BỂ DÂU.

Em mình cùng lớn lên sau những phút giây đối thoại thậm chí đối đầu
Để bứt mình ra khỏi hình hài thằng Con làm thằng Người em nhỉ?
Biết nhìn đời bằng ánh nhìn thật kỹ
Khi rọi vào TÂM.
Mình sẽ lớn lên để bước đi khi trong tay cầm nắm một chữ: NHÂN
Ta sẽ thấy lòng mình thanh thản.

Ohh hình như... bỗng nhiên hôm nay anh nói nhảm
Liệu em có cười không?
Cái thằng đàn ông trong anh nhiều lúc như khùng
Thế mà em cũng yêu được nhỉ?
Nhắc em "chầm chậm thôi..." là anh tự nhắc mình đấy chứ

Chầm chậm thôi để nhớ... những riêng mang.

More...

Cung thanh là tiếng mẹ cung trầm là giọng cha

By

 



KN không tự đề cao ngành nghề của mình. KN chỉ nói những gì KN nghĩ và cho đó là đúng... chuyện là thế này:

Hằng An có đưa lên một entry giới thiệu cặp song tấu bản nhạc Romance Flamenco với đàn guitar làm mê đắm lòng người. Chắc chắn trong đó có KN. Nhưng khi viết comment. KN lại lên giọng khiêu khích và chợt nghĩ: à mình sẽ tiếng đưa đàn bầu Việt Nam lên blog để "chọi lại" entry guitar!!!

Nhưng (lại nhưng) phải bắt đầu từ sự ra đời của đàn bầu và câu chuyện cổ tích xứ Thái Tây Bắc nhắc KN nhớ lại... để rồi entry Sự tích cây đàn tính tảu ra đời. Cứ chờ một ý kiến chỉ cần chạm nhẹ vào đàn bầu là KN bật lò xo ngay và đây... KN vừa niệm câu thần chú "Vừng ơi mở cửa ra!" thì... ngay lập tức... comment của chị Chanhrhum xuất hiện như một cứu tinh:


Khải Nguyên!

Sự Tích về cây đàn Tính rất chân thật như lòng người Tây Bắc vậy! Còn về nguồn gốc của Cây đàn Bầu thì hơi... lạ! Nhưng không sao! Cái hay cái đáng quý ở đây là Người Kinh đã biết biến cái KHÔNG THỂ thành CÓ THỂ. Nửa trái Bầu thừa ấy ai ngờ lại chứa đựng cả một Trời Âm Sắc ngọt ngào quyến rũ. Sự Độc nhất vô nhị của đàn ĐỘC HUYỀN lại chính là ở chiếc dây duy nhất xin được của người Thái đó! Nó đã làm cho Thế Giới phải nghiêng mình thán phục! Và bí ẩn thay muốn Đàn Bầu ngân lên được người ta phải biết chạm thật nhẹ thật đúng lúc vào dây đàn khi gảy - như một động thái đánh thức bản ngã thanh âm tinh tế! KN thấy không sự tích này là cả một lời khen tặng xứng đáng cho nền âm nhạc Việt Nam mình đó em?./.


Thế là thỏa ước muốn. KN xin trân trọng kính mời các anh chị và các bạn cùng thưởng thức... cung thanh là tiếng mẹ cung trầm là giọng cha từ cây đàn độc huyền truyền thống của Việt Nam:


 

More...

có 102

By

More...

"Hồn trong võng gió mát như ôm"

By

 

 

Có lẽ câu ca dao câu hát ru:

"Đêm nằm võng rách còng queo

Bá hộ tới nói chê nghèo không ưng"

đã cực tả cái tính ưa thích nằm võng của bao người?

Người ta thích nằm võng từ lúc nào? - Hình như từ lúc mấy thằng nhóc con ra vườn téc cái bẹ chuối xanh treo giữa hai gốc ổi rồi thay phiên nhau ngồi lên đu đưa? Hình như từ lúc mấy anh câu sông câu mương ngồi ôm cần lâu mỏi lưng mỏi gối bèn đổi tư thế leo nằm trên chùm rễ phụ của bụi rù rì bên bờ nước để vừa nghỉ ngơi vừa nhắp cần câu?

Bao nhiêu đó nghĩ cũng đủ nẩy sinh ra cái ý tưởng làm chiếc võng đu đưa. Ở vùng quê Phủ An đi vào các làng quê người ta dễ gặp những hộ gia đình làm võng. Đàn ông đi thu gom nguyên liệu (thơm tàu xơ dừa...) phụ nữ chế biến (ngâm nguyên liệu kéo xe dây đánh sợi) rồi đan thoăn thoắt chiếc võng mới giống như người đan len ta thường thấy. Đan chừng 1 ngày rưỡi thì xong một cái võng 20 tao 2 ngày xong một cái võng 30 tao 2 ngày hơn xong chiếc võng 40 tao. Người thợ khéo tay nghề làm nên chiếc võng đẹp mắt võng đều võng cân bằng nằm lên không nghiêng không đổ. Các làng võng nổi tiếng là An Ngãi Phò An (An Nhơn) Bồng Sơn Tam Quan (Hoài Nhơn)... Có câu ca dao lưu truyền:


"Anh đi chợ võng Tam Quan

 Mua võng thơm tàu chỉ mất ba quan

Nhà em ở xóm Cây Bàng

Sang chơi ngó hướng ngọn bàng mà sang".

Chợ Tam Quan bán nhiều võng dừa (vì đây là xứ dừa: Công đâu công uổng công thừa/ Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan - Ca dao) nhưng cũng nổi tiếng võng thơm tàu con gái Tam Quan nổi tiếng giọng nói ngọt lịm như nước dừa lửa Tam Quan. Từ chợ Phủ đến các chợ quê chợ nào chẳng có hàng võng. Mặt hàng võng khá phong phú. Phân loại theo nguyên liệu có võng thơm tàu võng trân võng xơ dừa... theo kích thước phải kể võng đơn (20 - 30 tao) võng đôi (40 tao) theo màu sắc có võng nhuộm điều võng nhuộm tía. Nghề làm võng là nghề phụ của nông dân và bao đời họ vẫn nghèo. Nhưng nghề buôn bán võng cũng làm nên phát đạt cho nhiều người như các ông Tàu Bằng Tàu Hữu ở chợ Đập Đá; Bảy Ngon Tám Ngót ở chợ Cây Bông... Từ chiếc võng đan sợi dây thơm tàu sợi dây xơ dừa có thể đã kéo dài ngàn năm (nếu không thì đã không vào ca dao tục ngữ) ngày nay người ta tiến lên võng dây cước võng dây dù võng dây nhợ võng vải ... Cái võng từ trước đến giờ có xu hướng ngày càng gọn nhẹ càng tiện lợi. Thời chiến tranh bộ đội ngủ rừng trên võng võng cũng là hành trang người lính Trường Sơn xưa. Võng tiện lợi là võng có bộ khung riêng cơ động và đang được người thành phố ưa chuộng. Nhưng khi nó được cái tiện lợi di chuyển thì cái thú đu đưa thỏa thích cũng giảm đi nhiều.

Muốn nằm võng êm mà thoáng thì sắm võng thơm tàu. Nằm võng trân võng dây nhợ để lằn trên da thịt. Võng vải không thoáng nằm võng xơ dừa bị xót. Hồi nhỏ mỗi lần ngứa lưng tôi vẫn chạy tới võng (gặp võng xơ dừa càng tốt) hai tay túm lấy chùm tao võng mà xát lưng lia lịa liền được đã ngứa. Nằm võng phải đu đưa đu đưa là thú nằm võng. Tuổi ấu thơ ai chẳng từng nằm võng và từng nghe tiếng võng đưa kẻo kẹt và câu hát ầu ơi của mẹ ru giấc ngủ? Người già nằm võng đơn. Cặp vợ chồng trẻ nhiều khi nhân lúc vắng nhà chất hết lên võng đôi đu đưa cái ước mơ hạnh phúc đôi lứa của mình. Có ai ngờ đâu cái võng đo được sự xứng đôi vừa lứa của một cặp vợ chồng:


"Chồng còng lấy phải vợ còng

Nằm võng thì chật nằm nong thì vừa"

(Ca dao)?

Võng cũng là một loại "phương tiện giao thông" của thời xưa như con ngựa cưỡi cỗ xe ngựa chiếc xe kéo... Ở các làng quê quan hưu trí thầy thư lại tổng lý bá hộ... khi đi đâu ngồi cáng cho người khiên. Cáng là võng nhưng có mái che giống như sõng úp để che mưa nắng có treo rèm màn ở xung quanh có đòn khiên sơn son hai đầu chạm rồng rắn thiếp vàng... Đi theo sau cáng của các ông thường có võng điều võng tía của các bà các tiểu thư. Nhờ giàu trí tưởng tượng thi sĩ còn có võng gió nữa:


"Hồn trong võng gió mát như ôm"

(Xuân Diệu - Tâm sự với Quy Nhơn).

Bởi cứ quan niệm được đi võng là sang trọng cho nên người ta mới đem võng rước thầy thuốc thầy giáo rước bậc trên mình... Dân gian Bình Định vẫn có câu nói: "Có đem võng mà rước ông chưa thèm đi" được áp dụng trong một số trường hợp. Bà tôi vẫn kể cho con cháu nghe: "Hồi xưa anh nho sinh Nghi đi ra kinh dự thi đỗ Tiến sĩ. Hôm anh trở về được làng mang cờ quạt lên tận trên Phủ rước còn vợ chồng Tân khoa thì: Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau hiển vang lắm". Hình như bà tôi muốn "khuyến học" lũ con cháu của bà. Còn chuyện ông giáo già trường làng An Định hay kể cũng thật hấp dẫn: "Hồi nghĩa quân Mai Xuân Thưởng đánh nhau với quân Pháp thì cái võng tải thương là xe Hồng Thập Tự của mình đó. Tụi lính Pháp bị thương được Pháp chở trên xe Hồng Thập Tự hụ còi inh ỏi chạy về Quy Nhơn còn nghĩa quân bị thương mình võng về hậu phương điều trị còn nhanh hơn tụi Pháp". Hồi 9 năm kháng chiến ở quê tôi có Bệnh viện Song Thanh (Bệnh viện Quy Nhơn dời lên). Hàng ngày tôi thấy người dân ở các làng quê võng bệnh nhân chạy trên các đường làng.

Võng thường cột ở nhà trên nhà cầu nối nơi hóng được ngọn gió mát. Võng mới võng lành thì mắc trong nhà võng cũ đem cột ngoài hiên ngoài vườn cho có lúc ra nằm chơi. Võng được ưu tiên cho chủ nhà người cao tuổi em thơ bà ru cháu. Chị vú ru em bõ già dỗ con chủ có võng ở nhà dưới. Khách qúy đến chơi thường được chủ nhà mời nằm võng.

Trong chuyến về nước cuối cùng của Nguyệt tôi đã đưa Nguyệt đi xem một phòng triển lãm ảnh nghệ thuật. Chúng tôi được xem mấy bức ảnh chụp ông cụ già nằm võng đọc sách chữ Nho; ảnh chụp vị thiền sư ngồi võng có con chim hồng hạc đứng bên hầu ảnh đen trắng chụp thiếu nữ nằm võng ngủ ngày tóc dài như suối chảy tới đất... Xem xong các tấm ảnh Nguyệt tỏ rất vui và bảo: "Những tấm ảnh đó đã gây cho chúng mình nhiều rung động thẩm mỹ về hồn quê hồn Việt phải không anh?".

Huỳnh Kim Bửu - tp Quy Nhơn Bình Định; ĐT: 0958.501.562

 


CẢM NHẬN CỦA KHẢI NGUYÊN


Những cây viết tản văn tạp bút nổi tiếng ở Việt Nam có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Viết tản văn thường dùng lối tự sự viết mà như kể như tả nội dung ẩn chứa tính triết lý sâu xa nhiều thâm thúy mang sắc thái biểu cảm chân thành của chủ thể (người viết).

KN đã nhận đã đọc một số tản văn của tác giả Huỳnh Kim Bửu. Rất muốn đưa lên trang blog của mình với một thái độ trân trọng nhưng không thành vì do lỗi fone chữ. Đã đưa nhưng bạn đọc không đọc được KN cứ tiếc mãi... mà ngồi gõ thì thực sự là dịp cuối năm KN không có nhiều thời gian.

Lý giải căn nguyên yêu thích tản văn Huỳnh Kim Bửu bởi một điều đơn giản thôi vì KN là dân nghiên cứu văn hóa dân gian. Đọc CHÕNG TRE TRE BÀ TÔI ĂN TRẦU CHA CON ÔNG THỢ KHÉP CỐI XAY LÚA và NẰM VÕNG THÌ PHẢI ĐU ĐƯA... đó không chỉ là những bút ký tản văn tạp bút hay mà còn là những công trình nghiên cứu văn hóa dân gian rất đặc sắc thể hiện sự nghiên cứu có khoa học có đúc kết có diễn trình khảo tả đến từng chi tiết. Chắc hẳn vì quá yêu quá say mê văn hóa quê mình mà tác giả đã nắn nót bài trí những con chữ bằng tất cả niềm xúc cảm của mình để dệt nên những áng văn đi vào lòng người sâu sắc và tròn trịa như thế chăng?

Mạn phép tác giả ở tản văn này để KN xin được thử góp bàn một ý nhỏ vừa chợt đến: hình như người Việt ta sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thời tiết nóng ẩm mưa nhiều... lắm muỗi nhiều ruồi và cả những con rĩn cứ vo ve quấy nhiễu thật khó chịu... nên ông bà cụ kỵ ta từ thuở xa xưa mới nghĩ ra chuyện "nằm võng" để còn "đu đưa" nhằm xua đuổi giống côn trùng kia đấy nhỉ? Và hình như cả chuyện ăn nằm ngủ nghỉ... người Việt ta cũng vì "khó" mà "ló" những cái "khôn" như đã từng gắp thức ăn bằng đũa nằm đầu hiên đón gió nồm Nam bằng chõng tre phe phẩy cái quạt mo cau để vơ về chút gió trời ngày hạ?!?

More...