Giao mùa

By

 

 

Không khí lạnh tràn về. Người Hà Nội co ro trong cái rét đầu mùa. Bên nhà anh Đinh Thường (hoadaquy) có bài thơ CUỐI THU hay cực hay:

CUỐI THU
Hoa Dã Quỳ

Gió heo may hong hẩy
Vắt giọt Thu cuối cùng
Chiếc lá vàng run rẩy
Chạm lòng ta mông lung

Người ra phía ngàn trùng
Lặng thầm mang nỗi nhớ
Người ở nhà trăn trở
Giấu nỗi lòng rưng rưng

Mùa thu chưakịp mừng
Bàn tay đà khép lại
Ai bây giờ xa ngái
Tháng ngày chung chưa chung

Thôi để Đông ngập ngừng
Mang đi mùa Thu nhớ
Mặc ta ngồi ăn dở
Mảng trăng hình cánh cung

Mình đã để lại đôi dòng cảm nhận: Ui em định tắt máy đi ngủ rồi. Nhìn thấy bài thơ của anh liền vào đọc. Bên nhà chị CR cũng có bài thơ thể 5 chữ sang anh cũng bắt gặp thể thơ này sự trùng lặp ngẫu nhiên thế nhỉ? Khổ thơ cuối hay câu thơ kết và hình ảnh thơ trong câu thơ kết đẹp quá!

Thôi để Đông ngập ngừng
Mang đi mùa Thu nhớ
Mặc ta ngồi ăn dở
Mảng trăng hình cánh cung

Ngày bé nếu em ăn dở cơm kiểu bỏ bữa ấy là luôn bị mẹ mắng. Nếu ngày ấy có bài thơ này của anh nhỉ em sẽ đọc to cho ba mẹ cùng nghe và đảm bảo mẹ em sẽ không mắng nữa. Vỡ... ăn dở mà để lại hình ảnh "mảnh trăng hình cánh cung" như thế kia thì đến nhà thơ Hoàng Hữu - tác giả của bài thơ nổi tiếng HAI NỬA VẦNG TRĂNG cũng phải cúi rạp người với hình ảnh thơ đẹp và lãng mạn của anh.

***

 

Một đất nước - một ngày mà 3 miền 3 thời tiết khác nhau. Miền Bắc lạnh miền Trung mưa miền Nam trời chuyển sang Thu lạnh gió. Thương miền Trung mưa dông. Chị Lan Phương (Chanhrhum) có bài thơ CHIASẺ:

CHIA SẺ
Chanhrhum

 

Gió cồn cào sang Đông
Thu vẫy tay từ biệt
Cây bên đường mỏi mệt
Trơ cành khô đợi mùa

Sót lại một cơn mưa
Hình như Thu nuối tiếc?
Đông đó về hay chưa
Mà dòng sông chảy xiết?

Có thương người áo mỏng
Mưa ơi đừng tái tê!
Thương mái nhà rách thủng
Gió ơi thôi lùa về!

Ai chăn êm nệm ấm?
Ai sắt se lạnh lưng
Xin chia dùm ngọn lửa
Thắp lên tình mùa Đông./.

Thể thơ 5 chữ chặt chẽ khúc triết chẳng thể dài hơn càng chẳng thể ngắn hơn. Thế mới tài! Thơ viết về thiên nhiên nhưng để nói về nỗi lòng. Thu qua Đông tới tưởng đó có thể mỉm cười đón gió Đông vậy mà... dòng sông vẫn chảy xiết.

Em đọc báo: Ngày hôm nay do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường ở miền Bắc nên Nam Trung bộ có mưa và dông ở ngoài khơi Trung Bộ và Nam Bộ gió Đông Bắc mạnh cấp 7 có lúc cấp 8 giật trên cấp 8 biển động mạnh... Giờ đọc bài thơ này mới thấy thương nhau và ước muốn được chia sẻ:

Ai chăn êm nệm ấm?
Ai sắt se lạnh lùng
Xin chia dùm ngọn lửa
Thắp lên tình mùa Đông./.

Tình mùa Đông trong bài thơ chị gửi giữa đêm Đông sao đẹp và ấm áp tâm can.

***

Đọc các anh các chị mình lại nhớ... năm 2005 có viết bài thơ về khúc giao mùa. Giữa cái lạnh của đất trời Hà Nội cuối Thu đầu Đông xin gửi tặng những ai cũng nhung nhớ xuyến xao bâng khuâng dùng dằng với giao mùa:

GIAO MÙA
Khải Nguyên

Giọt mưa Thu dịu ngọt
Cho xanh lại đất trời
Biết là Đông đang đợi
Nên Thu buồn chơi vơi.

Hỡi người hỡi người ơi!
Heo may về mấy độ
Chút lạnh se sẽ quá
Cho đất trời làm quen.

Cho em được làm duyên
Với thời trang con gái
Cho cây bàng trút lá
Chuyển nhựa lên đầy cành.

Dẫu Thu còn mong manh
Là Hạ đang níu lại
Heo may khe khẽ gọi
Là Đông về sớm hơn.

Chúng mình chút giận hờn
Là yêu thương nhiều đấy
Yêu nhau nên mới vậy
Chẳng tại ai tại ai...

 

More...

Lá cờ đêm ấy ai treo?

By

 


Thưa các cô bác anh chị và các bạn!

Khải Nguyên đã vô cùng xúc động khi xem chương trình VTV3 sáng nay. Người kể là Đại tá PGS-TS Nguyễn Thuận một trong 4 người thuộc Trung đội 52 Tiểu đoàn 444 Trung đoàn Công binh 151 tăng cường cho Trung đoàn Thủ đô được giao nhiệm vụ thực hiện treo lá cờ Tổ quốc trên Cột cờ Hà Nội vào đêm mùng 9 rạng ngày 10/10/1954 để sángngày 10/10/1954 làm lễ thượng cờ chào mừng đoàn quân chiến thắng trở về tiếp quản Thủ đô thân yêu. Và một "huyền thoại bí mật" đã được "trở lại" với đời thường rất đáng trân trọng và đáng được biết đến.


Khải Nguyên đã tra tìm trên google để có bài báo này: LÁ CỜ ĐÊM ẤY AI TREO. Nhân dịp 10 ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội xin trận trọng gửi đến quý bạn đọc!


LÁ CỜ ĐÊM ẤY AI TREO

Khiếu Quang Bảo (ghi theo lời kể của Đại tá PGS-TS Nguyễn Thuận)

Chuyện tôi ghi lại đây là một tư liệu lịch sử cách mạng xảy ra vào đêm mồng 9 rạng 10/10/1954 ngày quân ta vào giải phóng Hà Nội. Trước đó sau lễ hạ cờ chỉ huy quân đội Pháp ra lệnh phá hủy luôn đoạn cột cờ bằng sắt trên tháp cột cờ Hà Nội làm khó cho người tiếp quản.

Trung đội 52 thuộc Tiểu đoàn 444 Trung đoàn Công binh 151 tăng cường cho Trung đoàn Thủ đô được giao khôi phục lại đoạn cột cờ ấy. Nhận nhiệm vụ Trung đội trưởng Phạm Gia Công hình dung ra ngay những việc phải làm cắt đặt một "kịch bản" rất hoàn chỉnh khiến ai cũng nghĩ rằng anh biết và khảo sát trước địa hình. Nhưng không phải như vậy: Công là người Hà Nội gốc rất quen thuộc khu vực này từ trước ngày toàn quốc kháng chiến. Anh cho một tiểu đội do Trung đội phó Nguyễn Văn Đại chỉ huy tới ga Hàng Cỏ nhờ công nhân làm chiếc cột cờ bằng thép ống đường kính 9-10 cm dài 12 mét hàn sẵn thanh kẹp pu-li chạy cáp ở một đầu cột cùng 50-60 mét dây cáp kéo cờ và dây thép buộc. Hai tiểu đội còn lại do Công chỉ huy đến tháp cột cờ tìm giải pháp kéo cột cờ lên đỉnh. Thời gian ấn định: đêm mồng 9 dựng lại cột kéo cờ thử rồi hạ xuống sẵn sàng vào 15 giờ 30 ngày hôm sau Anh hùng Nguyễn Quốc Trị - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Thủ đô sẽ kéo cờ Tổ quốc chào đón đoàn quân chiến thắng trở về. 

Tất cả Trung đội từ chỉ huy đến chiến sĩ đều hào hứng. Công nhân hỏa xa ga Hàng Cỏ giúp đỡ tận tình. Ngoài cột cờ dây cáp thép buộc họ còn chuẩn bị cả dây chão kéo cột kìm búa cho một xe goòng kéo tay theo đường sắt chở cả về Cửa Nam rồi khênh bộ đến chân tháp. Đưa cột lên khó khăn hơn vì bậc thang tới đỉnh tháp phía trong hình rẻ quạt xoáy trôn ốc không có khoảng trống luồn cột cờ. Phương án đặt ra là phải kéo phía ngoài tháp từng đoạn một chia người ra đứng bên trong theo từng bậc thang đồng loạt kéo theo hiệu lệnh. Phải kiên nhẫn dịch chuyển từng bước từng khúc một. Gió to Phạm Gia Công hét thật to trong khi quan sát qua bên ngoài. Tới cửa sổ gần đỉnh tháp thì gặp mái ngói không thể đứng kéo dây họ dỡ mấy viên ngói rồi luồn cột qua cửa sổ vào trong dóng lên qua chỗ vừa dỡ. Rất may trên đỉnh tháp có cái hố sâu gần 1 mét cạnh cột thu lôi có chỗ để cắm chân cột cờ rồi néo vào cột gạch.

Sau ba tiếng đồng hồ đánh vật trong đêm tối cột cờ đã được dựng xong. Trung đội phó Nguyễn Văn Đại chàng sinh viên ra đi 8 năm trước khoát tay nhẹ cười khe khẽ và cất tiếng hát: Cất bước ra đi chiều năm xưa dậm dài kháng chiến quên ngày về bụi đường trường chinh pha mái tóc... " rồi đến "Năm cửa ô đón chờ đoàn quân tiến về... Hà Nội sương sớm long lanh. Chúng ta ươm lại hoa...". 

10 giờ đêm đó Tiểu đoàn trưởng Công binh 444 Nguyễn Sanh Dạn cho chuyển đến chiếc sọt tre đựng lá cờ dễ dài tới 9 mét nghe nói mang từ Đại Từ - Thái Nguyên về. Đỉnh tháp chật hẹp chỉ đủ chỗ cho 4 người trẻ khỏe nhất là Trần Văn Giai Trần Điển Nguyễn Văn Phiêu và Nguyễn Thuận đứng gá cờ vào dây cáp kéo thử. Gió lộng họ vừa kéo vừa nghe ngóng cho tới khi cờ mở tung hết ra mới cảm nhận nó đang phần phật bay trong bầu trời rộng mở. Gió từ Cửa Bắc thổi về phía Cửa Nam mạnh tới mức lá cờ giăng phẳng ngang với ngôi sao đứng thẳng ở giữa. Bỗng tiếng reo hò dội lên ra là của dân đứng ở vườn hoa Canh Nông bên kia đường.

Nửa giờ nghỉ ngơi và ngắm xem cột chịu được không? Yên tâm rồi chắc lắm. 12 giờ đêm Công ra lệnh hạ cờ. Bỗng gió giật mạnh làm lá cờ tung lên tụt xuống khoảng một mét rồi mắc lại dây cáp bật ra ngoài rãnh pu-li và kẹt lại. Giờ thì kéo lên không được hạ xuống cũng không xong. Mọi người nhìn nhau hoảng hốt nặng trĩu. Tin đến Ủy ban quân quản Thiếu tướng Vương Thừa Vũ ra lệnh "Bằng mọi giá đưa được lá cờ lên đỉnh cột ngay trong đêm rồi cố định lại không hạ xuống nữa". Điều đó có nghĩa là "hy sinh" kịch bản kéo cờ lúc 15 giờ 30 ngày 10/10 của Anh hùng Nguyễn Quốc Trị.

Gió thổi nửa đêm về sáng mỗi lúc một mạnh. Lá cờ ở độ cao 11 mét kể từ mái ngói đỉnh tháp hoặc 44 4 mét kể từ mặt đất kéo căng dây cáp thật khó khống chế. Đang bí thì Trần Văn Giai đề nghị cho anh trèo lên nâng dây cáp vào pu-li."Tôi cầm tinh con khỉ quê ở Hậu Lộc - Thanh Hóa từ nhỏ chuyên bẻ cau thuê đu từ cây này sang cây kia không cần xuống đất...". 

Không dây an toàn Giai leo lên cột thép cao tương đương với ngôi nhà 15 tầng. Không ai dám nói chắc hoặc ngờ vực còn cách nào khác ít uy hiểm hơn đâu. Công vội phân công Phiêu và Thuận đứng dưới giữ cột vừa phòng đỡ nếu Giai ngã. Bầu trời lồng lộng từ dưới nhìn lên anh Giai như một con nhái bén. Cờ bay kéo dây cáp căng như dây lèo cột buồm. Cứ thấy anh huơ tay chỉnh dây cáp và hét vọng xuống "thả"- "kéo" - "thả" - "kéo". Một giờ trôi qua người ở dưới không dám hỏi. Thuận và Phiêu cứ ngửa mặt lên chực hứng đỡ cái thời khắc... rủi ro. Thế mà đã mỏi đã chờn chợn. Rồi một giờ nữa trôi qua bỗng Giai hét lên: "Được rồi. Kéo!" Rồi: "Dừng và giữ chặt!". Rồi Giai tụt xuống từng đoạn một. Cách đầu Thuận và Phiêu chừng một mét xoắn xong nút dây cuối cùng anh kiệt sức rơi tụt xuống đôi vòng tay đồng đội ngất lịm. Lúc ấy là 4 giờ sáng ngày mồng 10 tháng 10 năm 1954...

Người kể với tôi chuyện này là Đại tá PGS-TS Nguyễn Thuận một trong bốn người của Trung đội 52 đứng trên đỉnh tháp cột cờ ngày ấy đã đỡ anh Trần Văn Giai "huyền thoại" ngất xỉu rơi xuống. Ông nguyên là Chủ nhiệm bộ môn Xây dựng Công trình Quốc phòng Học viện Kỹ thuật Quân sự chủ trì nhiều công trình nghiên cứu tiêu biểu thời chống Mỹ bảo vệ biên giới phía Bắc và Trường Sa. Giờ ở tuổi 74 ông còn xúc động khi kể lại.

- Bí hiểm thế đấy. Trần Văn Giai đúng là đã làm nên một huyền thoại. Cho đến bây giờ tôi vẫn không sao giải thích nổi sao anh ấy không ngã xỉu ngay sau khi đưa được dây cáp lên pu-li khi anh ấy đã hét lên "được rồi". Mà lại là chỉ sau khi đã cột nốt nuộc dây cuối cùng cố định chắc chắn hoàn toàn lá cờ vào cột thép mới kiệt hẳn buông tay...

Tôi nghe ông Thuận kể chuyện trong vườn hoa Lê-nin trước mặt là ngọn cờ phần phật bay trên đỉnh ngọn tháp vững vàng in thắm trên bầu trời thu xanh.Một "huyền thoại bí mật" đã được "trở lại" với đời thường rất đáng được biết đến.

 

Tiến về Hà Nội
Sáng tác: Văn Cao
Thể hiện: Tiến Thành cùng tốp ca Đài TNVN


More...

Trách cứ 1 phần còn 9 phần là để đọc

By




Hôm qua nó hứa với chị
: mai chị qua nhà em đọc truyện cực ngắn em viết nhé! Nhưng nó đã không làm được như đã hứa. Thực tình nó hẹn là để tự hứa với chính nó trong việc thử sức viết truyện cực ngắn hay còn gọi là truyện 100 chữ vậy mà...

Nó thích thể loại này từ lâu rồi. Nó đã sưu tầm góp nhặt làm một entry ở diễn đàn http://www.anhvaem.net suốt từ năm 2004 nhưng giờ thì trang ấy đã không còn tồn tại. Nó nghĩ: người điềm đạm thường ít nói nhưng khi đã nói là nói những câu từ rất đáng để suy nghĩ; "nói dài nói dai thành nói dại" ngắn gọn thường đi đôi với súc tích và logic như thế là biểu đạt của con người thông minh điềm đạm.

Đọc những câu truyện cực ngắn như thế khác gì như đọc được những câu danh ngôn phương ngôn ngắn mà hay và sâu sắc tác động rất nhanh và mạnh đến trung khu thần kinh cảm nhận đến sự tự ý thức để khiến nó như mặc nhiên được cảm thụ sâu sắc hơn ngàn lần những bài rao giảng đạo đức xáo rỗng nhạt thếch...

Viết những truyện cực ngắn như thế đúng như chị nói: Để viết được ngắn lại phải nghĩ rất lâu. Và thấy mình khắt khe hơn khi sử dụng từng con chữ em ạ!

Thôi thì chưa viết ra được nó nhận lỗi với chị bằng chùm truyện cực ngắn nó sưu tầm lượm lặt vậy! Mong là khi chị sang với nó trách cứ 1 phần còn 9 phần thì chị hãy đọc để chiêm nghiệm về cuộc sống như nó đã từng chiêm nghiệm khi đọc những truyện ngắn cực ngắn mà hàm súc như thế này:

GIA ĐÌNH
Đào Thị Diễm Tuyết

Mấy năm trước cháu được một tuổi rưỡi nói bập bẹ mới biết đi. Bà vỗ tay mừng cháu. Mẹ cười hạnh phúc.

Hai năm sau cháu đã vào lớp một. Bà bị tai biến mạch máu não nằm liệt gường không nói được. Nụ cười hiếm thấy trên khuôn mặt mẹ.

Sau nhiều tháng điều trị bà bỗng nói được rồi bà chống gậy tập đi. Bà đi được cháu vỗ tay mừng bà. Mắt đẫm lệ mẹ cười.

MỘT BUỔI SÁNG
Thanh Hải

Thằng bé mặc bộ quần áo rách phong phanh bước chân sáo trên đường mặc gió lạnh. Nó ghé vào một hàng phở nhỏ nghèo nàn bên góc phố đường hoàng nói lớn: - Dì bán cho con tô phở ba ngàn đem về.

Bà hàng phở nhìn nó nhưng rồi lại cụp đầu xuống. Tưởng bà không nghe nó nói càng to hơn. Nào ngờ bà mắng xối xả: - Tao không bán. Mới sáng mà mày đã tới ám tao hả thằng ăn mày! Mua ít vậy sao tao bán?

Nó cúi gằm mặt nắm chặt mấy tờ bạc lẻ nhàu nát trong tay rồi lầm lũi bước đi. Nó chỉ muốn mua cho mẹ một tô phở nóng nên để dành mãi từ số tiền ít ỏi bán vé số hàng ngày. Mẹ nó đau.


TÌNH MẪU TỬ
Thạch Nhung 

Mẹ cho gà ấp trứng vịt. Trứng nở. Đàn vịt con lội dưới ao sâu. Mẹ gà táo tác chạy theo trên bờ trông con. Mẹ bảo "Mẹ gà con vịt mà tình mẫu tử thiêng liêng vậy đó!".

Mẹ nuôi mái gà khác. Gà mẹ dắt con kiếm mồi. Gà mẹ mê mồi bay qua bờ mương bên kia. Gà con nháo nhác lao theo mẹ. Từng con từng con rơi tõm xuống ao. Mẹ giận mắng "Sao có con gà ngu thế!".

Bố mất. Mẹ lấy chồng khác. Những lúc buồn tôi lại nhớ đến những mẹ gà.

GIỖ ÔNG
Bình Nguyên

Sớm mồ côi. Từ nhỏ anh em nó sống cùng nội trên mảnh đất của người chú. Năm ngoái sau trận bão lớn ông nó quy tiên. Chú nó lấy lại căn chòi khuyên "lớn rồi... nên tự lập". Anh em dắt díu nhau tha hương.

Trưa. Phụ hồ về "nhà" - (ở dưới gầm cầu). Mệt. Đói. Giở nồi cơm nhão như cháo. Thằng anh mắng "đồ hư". Con em mếu máo "em nấu để... giỗ ông". 

Ngẩn người. Chợt nhớ hôm nay tròn năm ngày ông mất. Hồi ở quê thường ngày ông thích cơm nhão. Thế mà...! Ôm em vào lòng nó gọi trong nước mắt: Ông ơi!!!

MỘT MÌNH
Nguyễn Thái Sơn 

Em lớn dần cái tuổi rất dễ tự ti và mủi lòng. Nhà vẫn nghèo ba mất sớm mẹ làm lụng một mình. Mẹ chỉ có hai tài sản quý giá nhất đó là em và chiếc xe đạp.

Hôm thi cấp tỉnh mẹ dậy sớm gò lưng trên chiếc xe đạp cũ kỹ ấy đưa em đến nơi thi. Quanh quẩn toàn xe máy. Dường như tất cả nán lại cổ vũ tinh thần cho con em mình. Em ngẩng nhìn mẹ giọng em đượm buồn nhưng đĩnh đạc "Thôi về đi mẹ!".

Chuông điểm hết giờ. Ngoài cổng nhốn nháo hẳn lên. Lời han hỏi rộn ràng tiếng máy xe giòn nổ. Nắng rát em về lầm lũi chỉ cái bóng là "người bạn đường" đi kè bên chân.

Nhìn những chiếc xe chở bạn bè cùng trang lứa lướt qua em thấy sự cô độc nhân đôi. Nhưng lạ thay em bỗng càng thương mẹ hơn vì giờ này mẹ cũng đang hẩm hiu ngoài đồng xa.

Em ra đồng chờ mẹ cùng về. Em thấy mắt cay cay: Mẹ đang cấy... một mình.

BÀ và CHÁU
Trần Công Thi

Mẹ mất. Ti và bà ngoại phải đến ở nhờ nhà bác Sáng. Bác Sáng là con trai cả của bà ngoại. Đêm. Ti ngủ với bà. Bà ngoại già rồi lẩn thẩn lại mắc bệnh đái dầm ai cũng biết. Buổi sáng khi quét nhà nhìn thấy vũng nước dưới gầm giường bác gái chì chiết:

- Đứa nào đổ nước ra đây thì lau ngay đi bà không hầu mãi đâu nhé!

Bác trai ngồi im. Ti lặng lẽ đi lau vũng nước chợt thấy mắt bà ngoại cũng rưng rưng.

CON NUÔI 
(st)

Thầy giáo lớp 1 thảo luận với lớp về một bức hình chụp có một cậu bé màu tóc khác mọi người trong gia đình. Một học sinh cho rằng cậu bé trong hình chính là con nuôi. Một cô bé nói: - Mình biết tất cả về con nuôi đấy. 

Một học sinh khác hỏi: - Thế con nuôi là gì? 

Cô bé trả lời: - Con nuôi nghĩa là mình lớn lên từ trong tim mẹ mình chứ không phải từ trong bụng.

LỜI HỨA
(st)

Tết anh chở con đi chơi. Về nhà thằng bé khoe ầm với lũ bạn cùng xóm. Trong đám trẻ có thằng Linh nhà nghèo lặng lẽ nghe với ánh mắt thèm thuồng. Thấy tội anh nói với nó: "Nếu con ngoan tết năm sau chú sẽ chở con đi chơi". Mắt thằng Linh sáng rỡ.

Ngày lại ngày. cuộc đời lại lặng lẽ trôi theo dòng thời gian.

Thoắt mà đã hết năm. Lại tết. Đang ngồi cụng vài ly với đám bạn thì thằng Linh cứ thập thò. Vẫy tay đuổi nó đi được một chốc rồi lại lượn lờ. Cáu tiết anh quát nó. Thằng Linh oà khóc nức nở. Tiếng nó nói lẫn trong tiếng nấc: "Chú hứa chở con đi chơi... cả năm qua con ngoan... không hư một lần nào..."

TRUYỀN THUYẾT
(st)

Một người bị bệnh. Phù thủy bảo: "Anh phải trao trái tim người mẹ cho ta mới khỏi bệnh". Anh con trai về giết mẹ lấy trái tim mang đến. Giữa đường anh vấp ngã trái tim mẹ cất tiếng dịu dàng: "Con vấp có đau không?".

ĐI CHỢ XA
(st)

Một nhà thơ hồi tưởng lại thuở thơ ấu: "Hồi ấy mẹ mình đi chợ mua rau phải lặn lội chợ xa không đi chợ gần nhà. Hỏi thì mẹ mình bảo: mua gần nhà đắt mua chợ xa mới rẻ được vài xu có cái để dành cho chúng mày ăn học chứ!".

TRANH VUI
(st)

Một bức tranh vui xem được trên báo: Tranh vẽ một chiếc tàu vũ trụ vừa bay lên không gian. Bất ngờ có một bà mẹ vẻ mặt đầy lo âu bay theo phía sau và gọi nhà du hành vũ trụ: "Con còn quên bàn chải và kem đánh răng đây này!".

TRANG VIẾT và CUỘC ĐỜI 
(st)

Trong những tác phẩm của chị gia đình có sự mất mát chia lìa thì nhân vật "người chồng" luôn... bị chết trước vợ. Anh giận cho rằng chị ám chỉ mình. Chị bảo: "Nếu trang viết là cuộc đời thì em chỉ muốn anh không phải chịu nỗi buồn của người còn lại.".

Vậy mà chị ra đi trước anh. Trơ trọi một mình anh mới thấm thía nỗi chống chếnh quạnh hiu của một tâm hồn lẻ bạn.

More...

Nụ cười ở lại

By


Sớm đầu ngày hôm nay KN dừng chân ở blog của bạn Thy Nguyên bắt gặp một thông điệp ngắn:


Quý cô bác anh chị ngôi nhà VnWeblogs kính mến!

Thấm thoát đã tròn một năm ngày chúng ta vĩnh viễn chia tay tác giả cuốn sách "Khát Vọng sống để Yêu". Người con của quê hương Bắc Giang - Nguyễn Hồng Công ra đi đã để lại cho đời hai tác phẩm được viết giữa hai lần chạy thận. Trong lòng bè bạn Hồng Công luôn hiện hữu với nụ cười thân thiện:


 











Thưa Quý cô bác anh chị!


Nhân kỷ niệm một năm ngày Hồng Công đi xa với lòng mến mộ và trân trọng nghị lực can trường của Nguyễn Hồng Công nhóm biên soạn đã làm tất cả những gì để ra mắt tác phẩm thứ 3 của Nguyễn Hồng Công mang tên "Nụ cười ở lại".


Với 542 trang "Nụ cười ở lại" gồm các bài viết chưa công bố của Nguyễn Hồng Công nhóm biên soạn mong muốn một lần nữa khắc họa lại chân dung Nguyễn Hồng Công trong cuộc sống thường nhật và trong tấm lòng bè bạn thắp sáng lên nụ cười của em - Biểu tượng của niềm tin chiến thắng bệnh tật và chiến thắng chính mình!


"Nụ cười ở lại" như nén hương lòng tưởng nhớ đến người bạn - tác giả giầu sức sống và tình yêu thương. Cuốn sách được xuất bản bởi NXB Văn học với số lượng in lần đầu là 2000 cuốn.


Nhữngngười tâm huyết biên soạn cuốn sách (gia đình Hồng Công những người tổ chức bản thảo và biên soạn các đơn vị tài trợ) mong muốn sẽ phần nào thực hiện được tâm nguyện của em là có một quỹ nhân đạo giúp cho những người chạy thận nhân tạo gặp khó khăn với mục đích Tất cả tiền bán sách sẽ được tặng cho khoa thận nhân tạo của bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội nơi mà Hồng Công đã gắn bó suốt 12 năm. 

-------------

Với  tinh thần bán sách giúp cho ý nguyện của Hồng Công và gia đình được tặng tất cả số tiền bán sách cho khoa thận nhân tạo của bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội nơi mà Hồng Công đã gắn bó suốt 12 năm. Ngày 17.9.2010 Thy Nguyên sẽ nhận được 30 cuốn  sách cho độc giả tại khu vực Hải Phòng. Kính mong Quý cô bác anh chị cùng chung lòng để ước mơ của người đã khuất được thắp sáng.

 

Mọi chi tiết xin liên hệ: Thy Nguyên - ĐTDĐ: 0978.783878

 

Thy Nguyên trân trọng cảm ơn!
_________________________________________________________

KN đã gom một số clip về hình ảnh Nguyễn Hồng Công những ngày chị còn sống và những mảnh đời những số phận quanh chị bên chị ở xóm chạy thận nhân tạo Bệnh viện Bạch Mai - Hà Nội. Mà như chị đã viết về họ - những người đã "chạy" mỗi ngày để sống để kiếm đồng tiền bát gạo sinh nhai và để khao khát được sống được yêu thương... 

Chỉ 6 lần click chuột trên 6 clip với thời lượng là 57 phút các chị các anh và các bạn hãy cùng ghé thăm những mảnh đời những số phận để biết yêu thương nhau nhiều hơn và trân trọng hơn mỗi khoảnh khắc của cuộc đời mình cuộc đời này!

More...

KHÚC HÁT SÔNG QUÊ một bài thơ tôi yêu và mến

By

 
 
 
Tôi nhớ lời thầy giáo dạy văn những năm PTTH khi giảng bài thơ BÁC ƠI của TỐ HỮU trong đó có câu thơ: "Mong manh áo vải hồn muôn trượng/Hơn tượng đồng phơi những lối mòn""Cuộc đời thanh bạch chẳng vàng son". Có thể không là nguyên văn nhưng đại ý: "... trước tượng đồng sự bào mòn của thời gian gần như là bất lực trước vĩ nhân ta thấy ta nhỏ bé vô cùng các em ạ! Bác Hồ của chúng ta là thế: một vị cha sống cuộc đời thanh bạch mà vĩ đại nhường nào..."
 
Hôm nay lúc này... tôi nhớ về lời thầy dạy nhưng với một góc nhìn khác; phải chăng đây là một sự khúc xạ của kiến thức mà lũ học trò chúng tôi đã tiếp thu được từ trên ghế nhà trường? KHÚC HÁT SÔNG QUÊ như bức tượng đồng kia: sự hoàn hảo thành công hay còn là sự sâu lắng đẹp đến mọi góc cạnh của hình hài khiến bao lần tôi cứ dự định dự cảm rằng sẽ viết và viết nên  những cảm xúc của mình trước một bài thơ mà tôi đã đi tìm... Hành trình đi tìm bài thơ nguyên tác ấy được bắt đầu từ khi tôi về với vnweblogs quen ra vào - đọc xem ở blog Nguyễn Trọng Tạo - một nhạc sỹ tài danh với con mắt và thiện cảm của một thanh niên mới lớn như tôi. Nguyễn Trọng Tạo đến và ở lại trong sự mến mộ của tôi từ ca khúc KHÚC HÁT SÔNG QUÊ và với tôi: Anh Thơ là nữ ca sỹ thể hiện thành công nhất đằm nhất và sâu lắng nhất... ca khúc đó.

Tôi là cái thằng: hễ cứ bắt gặp ca khúc phổ thơ nào là lụi hụi đi tìm cho bằng được bài thơ nguyên gốc. Bởi trong tôi mỗi ngày như đang dần hình thành hình hài một cây viết linh tinh dớ dẩn khập khiễng. Thơ tôi - thứ thơ trải lòng cứ ồng ộc tuôn chảy như kiểu người ta nghiêng chai để rót nước mắm. Tôi định nghĩa "thơ" như là một sự chiết suất một sự trải lòng tuồng như chẳng hề có cái gọi là lao động nghệ thuật. Bởi lao động là có sự ý thức sự chủ động; còn với thơ - vô thức 100% chẳng tư duy nhiều gì cả   mạch thơ cứ chảy tràn và viết thơ là động tác đưa tay ra hứng tìm thứ gì đó như là vật dụng để hứng đựng mà thôi! Vì thế khi bắt gặp nick name Lê Huy Mậu trên vnweblogs tôi đã mò mẫm tìm trong blog của anh. Và tôi đã tìm thấy KHÚC HÁT SÔNG QUÊ  trong một góc riêng rất khiên tốn ở blog Lê Huy Mậu. Cũng thú thật ngày ấy tôi chưa biết tra google thành thạo như bây giờ. Hì kể cũng buồn cười cái thằng KN ngộc nghệch ngốc nghếch IT đến thế!?

Trở lại với KHÚC HÁT SÔNG QUÊ. Tôi xin trân trọng gửi đăng trọn vẹn bài thơ này:

KHÚC HÁT SÔNG QUÊ
Lê Huy Mậu

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...

Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...

Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi.

lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...

Chẳng biết ta đã ăn ở thế nào với đất
mà đất lở sông ơi!
nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...

Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương
tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.

Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm
ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...

Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...

(Trích trường ca THỜI GIAN KHẮC KHOẢI của nhà thơ Lê Huy Mậu)

Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo ca sĩ Anh Thơ và nhà thơ Lê Huy Mậu

Đấy hình như tôi lại trở về cảm xúc của một kẻ đang loay hoay nhìn ngắm bức tượng đồng. mà người ngắm thấy mình quá nhỏ bé khi đứng ngay sát dưới chân tượng. Tôi sẽ chầm chậm lùi lại và lùi ra xa đủ xa để ngắm toàn cảnh... Có lẽ với cách ấy tôi mới có được những mạo muội những chấm phá về bức tượng đồng mà tôi yêu mến nể phục này.

Ngỡ như người đã hát thay tôi
ngỡ như tôi đã lẫn vào câu hát
tuổi thơ ơi!
quá nửa đời phiêu dạt
ta lại về úp mặt vào sông quê
như thuở nhỏ
úp mặt vào lòng mẹ
để tìm sự chở che...


Phải là đứa con rất yêu quê rất yêu mẹ thì mới viết nên những câu thơ bình dị như thế! Câu thơ đọc lên mà như hát như nũng nịu mẹ hiền nhưng đầy ắp và chan chứa tình yêu thương rõ mồn một hành động cử chỉ thật đáng yêu. Lối ví von quả là tài tình. Hình như trời ban phát cho Lê Huy Mậu khi anh gõ ra những câu thơ chất chứa hình ảnh đẹp. Úp mặt vào sông quê vào cái thời khắc đã  qua nửa đời người lang bạt kỳ hồ làm nhắc nhớ thuở còn thơ đã từng úp mặt vào lòng mẹ để tìm sự vỗ về sự chở che sự âu yếm tình cảm cả những tức tưởi khi bị ai đó mắng oan hay là biểu hiện của nhớ nhung thèm hơi hướm của mẹ mà đích thực là thèm nhớ mùi mồ hôi ngai ngái mùi hơi sữa thơm thơm của mẹ từ ngày còn bú mớm. Lạ thật đấy có mấy ai lại không ghì ôm đối diện nhau đâu. Với mẹ được vục đầu vào ngực mẹ dù có là vĩ nhân hay kẻ tội đồ dẫu tóc để chỏm còn xanh hay đã điểm sương (hoa râm) hay đã bạc trắng dẫu đã lên chức ông bà cha mẹ... thì trước mẹ kính yêu trong lòng mẹ sinh ra ta vẫn như đứa trẻ: bé bỏng và rất mực ngoan hiền. Nghĩ và viết thế là để muốn tỏ bày một cảm xúc nể phục và thầm ghen với nhà thơ Lê Huy Mậu khi anh bắt đầu một trường ca không ngắn nhưng đủ dài để hứng đựng rồi cho ra một cảm xúc thơ cho mẹ cho quê đẹp và dung dị đến thế. Anh viết mà như kể:

Xin bắt đầu từ hạt phù sa
ta cúi nhặt tình cờ bên bờ sông tháng Chạp
ôi! phù sa
những cá thể tự do trong hành trình của đất
đêm nao
chớp bể mưa nguồn
trong cơn thác lũ
trong sóng đỏ
đất đi
kiến tạo
sinh thành...


... mà kể thì thật lạ: người ta thường đi từ bao quát đến cái cụ thể từ vi mô đến vĩ mô từ xa đến gần từ không gian rộng đến hình ảnh thật gần thật rõ. Lê Huy Mậu thì ngược lại: anh viết về dòng sông c
hẳng đôi bờ chẳng trong đục nông sâu không là những con thuyền những tấm chài quãng lưới... anh bắt đầu từ hạt phù sa mà hạt phù sa bên bờ sông quê vào một ngày tháng Chạp. Trong dân gian tháng Chạp được nhắc đến là "tháng củ mật" - tháng bộn bề lo toan việc đồng áng: tranh thủ cày bừa be bờ tát nước càn ruộng cho phẳng phiu để ra Giêng ấm áp chỉ việc nhổ mạ  mà cấy lúa rồi trồng khoai trồng đậu trồng cà... Đặc biệt khâu làm mạ gieo mạ chăm mạ giữa thời tiết lạnh cuối đông đề phòng cái rét nàng Bân mưa phùn gió bấc lúc Giêng Hai thì bộn bề là phải. Tháng Chạp nước sông thường cạn nên người nông dân đã vất vả lại càng vất vả nhiều hơn phải lắng lo cho cả mùa vụ sau để có một tháng ăn chơi trong tháng Giêng đỡ phải lo nghĩ nhiều!

Tôi đọc câu thơ bắt gặp hình ảnh người đàn ông tuổi đã trung niên - đứa con xa quê nay được trở về mà là về quê để ăn Tết. Người con ấy hẳn đã qua đò và đã bước xuống đò bên bến sông quê. Anh cúi nhặt dẫu chỉ là tình cờ khi cát vướng vào đôi dép của mình. Sự bắt gặp hoàn toàn vô tình chứ không cố ý giữa bàn tay và những hạt cát để Lê Huy Mậu có được một hình ảnh thơ gợi cảm sâu sắc đến nhường nào. "Ôi phù sa/những cá thể tự do trong hành trình của đất". Tôi chắc anh đang ví mình như hạt cát - hạt phù sa ấy chăng? Xa quê xa mẹ xa con sông quê đến quá nửa đời người; một sự kiến tạo rất tự nhiên của thiên nhiên làm hình thành nên đôi bờ con sông bên lở bên bồi hay là sự lắng đọng của phù sa nơi cửa biển. Những gò những bãi những hòn đảo chìm đảo nổi ngay cửa biển có phải vì thế mà sinh thành mà trường hữu?

có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh


Tôi bỗng mỉm cười với cái tài đọc thơ mà cứ rất hay xâu chuỗi những hình ảnh thơ của mình. Có lẽ vì thế mà bạn bè thường bảo tôi: KN là người hay đọc chậm đọc kỹ là vì thế?

Em ơi!
quả ớt cay bổi hổi
trên bãi sông
thuở chưa dấu chân người
anh nghe nói
có một thời
tất cả còn hoang dại
tổ tiên ta chỉ hái lượm mà thôi


Đúng là một câu chuyện kể. Mỗi dòng thơ khổ thơ như những trang dòng nhật trình cho mỗi bước đi chầm chậm của nhà thơ khi chạm chân vào đất quê. Có lẽ đồng đất bãi màu nơi quê hương anh trồng nhiều ớt? Tôi chưa có dịp để hỏi anh về điều này; mà nếu không thì tại sao anh lại chọn quả ớt để  ra thơ hay là để nhắc nhớ điều gì ở đây nhỉ? Nhưng thôi sẽ còn dịp... Vì tôi đang say với lối thơ đằm thắm chất chứa nhiều nội tâm của anh. Hình như ở độ tuổi trung niên con người ta mới nhiều suy ngẫm? Đó như là độ chín của trái độ chững chạc của tuổi trưởng thành?!
Hay do tâm trạng xa nhà xa quê lâu ngày nên khi trở về thường là gợi nhớ quá nhiều những tâm tư chăng? Chạm hạt cát - hạt phù sa mà nhớ đến tận đầu non về tận cuối bể nhìn trái ớt mà nhớ thuở hái lượm của tổ tiên. Lê Huy Mậu thật lạ và rất thành công để người đọc khi đọc những câu thơ này càng nhiều liên tưởng nhiều suy tưởng về sự hình thành sự sinh thành và cả nguồn cội.

Tôi rất thích những câu thơ:


lại nghe nói
thuở ta chưa biết ăn gì cả
ta cùng cây cỏ sinh đôi
rồi cây cỏ ăn ta
rồi ta ăn cây cỏ
cũng là khi cay đắng ngọt bùi
ta và đất kết giao
lấy dòng sông làm lời thề non nước...


và đặc biệt là 2 câu thơ cuối của khổ thơ này: "ta và đất kết giao/lấy dòng sông làm lời thề non nước...". Một đất nước có trăm ngàn con sông một đất nước trải qua bao cuộc kháng chiến mà chiến thắng nào cũng luôn gắn với địa danh những con sông những rạch ngầm những  bến bờ lau sậy bên những con sông trên mọi miền Tổ quốc. Nên quá đúng khi Lê Huy Mậu viết: "lấy dòng sông làm lời thề non nước". Bao trai tráng lên đường tòng quân giết giặc bảo vệ xóm làng; bao phụ nữ tiễn người thương trên những bến sông quê? Chắc không có sử gia nào thống kê được hết những cuộc chia ly "chói ngời" như thế? Và lời thề non nước ấy chắc chắn cũng thật khó đếm xuể. Tổ quốc quê hương gia đình và sức trai cùng nỗi nhớ niềm thương với bao sự đợi chờ của những phụ nữ Việt Nam trong khắc khoải... sự kết giao ấy chính là để hồi sinh mà sự hồi sinh được nhà thơ gói gọn trong câu thơ hình ảnh thơ thật đẹp:


nơi ta chăn trâu thả diều ngày cũ đã đâu rồi
hạt đất quê ta giờ đã bồi về đâu chẳng biết
có làng xóm nào sinh
có hòn đảo nào sinh
từ hạt đất bờ sông quê ta lở
như cuộc đời ta khuyết hao
để đắp bồi rờ rỡ
những sớm má hồng ríu rít cháu con ta...


Nói là sự hồi sinh tái sinh hay sinh sôi ở đây đều đúng cả. Hình ảnh "rờ rỡ má hồng trẻ thơ" có lẽ là hình ảnh đẹp vẹn nguyên tinh khôi và hạnh phúc nhất trong những hình ảnh về con người.
Tôi nhớ câu thơ "Ngày mỗi đến buổi đầu sinh nở/Mỗi ngày vui một quả trứng hồng" của nhà thơ Tố Hữu. Đấy là mỗi ngày vui còn cả cuộc đời cả đời người thì sự ấm êm của hạnh phúc chính là nụ cười của bé thơ của trẻ thơ có đúng không nhỉ?!

Này dòng sông!
ai đã đặt tên cho sông là sông Cả?
ai đã gọi sông Cả là sông Lam?
ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương


Đúng rồi sông Lam hay sông La cũng đều là con sông Cả - con sông đằm tình người xứ Nghệ - con sông cùng với núi Hồng làm nên một vùng văn hóa chẳng thể lẫn vào đâu dù vùng văn hóa ấy chẳng quá rộng cũng chẳng thêm chẳng bớt được địa vực hay địa dư nào. Thanh Hóa không thuộc xứ Nghệ dẫu kế bên về phía Bắc nhưng tự mình làm nên xứ Thanh; về phía Nam thì là xứ Quảng - chẳng thể pha lẫn hay giao hòa với xứ Nghệ. Những câu thơ rất thật: "ta đơn giản chỉ gọi là con sông quê hương" nhưng mang tầm khái quát lớn mà chắc chắn khi anh viết anh không ý thức được bài thơ này anh viết cho số đông anh chỉ tâm sự một tình yêu đơn giản là thế! Anh viết cho anh nhưng hễ ai soi vào cũng thấy mình trong đó bởi con sông thường là hình ảnh gợi nhớ nhất về quê hương về mẹ.


tháng Ba phù sa sóng đỏ
cá mương đớp ngọn lúa đòng đòng
tháng Năm
ta lặn bắt cá ngạnh nguồn
tháng Chín
cá lòng bong
ta thả câu bằng mồi con giun vạc
tháng Chạp
ta nếm vị heo may trên má em hồng...
Để rồi ta đi khắp núi sông
ta lại gặp
tháng Ba... tháng Năm... tháng Chạp
trong vị cá sông
trên má em hồng.


Bắt gặp một năm hằng số thời gian trong thơ Lê Huy Mậu khi anh viết về con sông quê hương về những kỷ niệm đẹp những hình ảnh trải theo cuộc đời một con người từ khi sinh ra lớn lên và trưởng thành. Không lẫn với NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG của Tế Hanh nhưng như là giữa hai tác giả hai bài thơ có mối giao hòa.
Tôi thấy lạ là khi ngắm chân dung con người ánh mắt nhìn của Lê Huy Mậu thường hướng rọi về đôi má anh dừng lại ở đấy để thấy những ánh hồng sự tươi vui tươi rói... Chắc con gái xứ Nghệ đẹp? Hay Lê Huy Mậu đa tình theo kiểu hiền ngoan mà không nhìn vào đâu đó nơi kia nơi khác nhỉ? Cá sông và má hồng con gái chắc chắn là rất ngon rất đẹp trong tâm thức những chàng trai xứ Nghệ khi nghĩ về quê hương? Tôi thì tôi cho là như thế đấy!

Này dòng sông
ngươi còn nhớ chốn ta ngồi ngóng mẹ
phiên chợ Lường vời vợi tuổi thơ ta
sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm


Đọc thơ rồi nghe hát; nghe hát rồi lại đọc thơ... Hình ảnh chiếc bánh đa vừng hình ảnh những cô cậu bé con ngồi trên triền đê đợi trông dáng mẹ đi chợ về để vòi quà chắc chắn không ai viết thành công bằng Lê Huy Mậu.
Mà như đến nay chỉ có anh viết được như thế và có lẽ về sau chẳng ai dám viết về hình ảnh đó nữa vì sợ vi phạm bản quyền (!) thì ít mà sợ thua đau thì nhiều bởi thật khó để sánh bằng. Giờ đây mỗi khi nhớ về tuổi thơ không ai là không nhớ những phút giây ngóng mẹ đi chợ về thể nào chẳng có quà dù là quà chỉ một xu dẫu là trẻ con nông thôn hay trẻ con thành thị đều thế như thế!

 
Nguyễn Trọng Tạo đã rất thành công khi phổ nhạc cho bài thơ này.
Tên anh gắn với KHÚC HÁT SÔNG QUÊ và vượt qua cả không gian thời gian để ai ai nhớ quê đều thuộc lòng bài hát hơn cả thuộc bảng  cửu chương hay bảng chữ cái tiếng Việt. Nhưng có lẽ anh cũng như chúng ta đã rất biết: loại hình âm nhạc không thể ôm cho trọn vẹn hết được một bài thơ hay của tác giả thơ Lê Huy Mậu.

Tôi thích cái kết của khổ thơ:

sao ngày ấy ta dễ ngoan đến thế
mẹ cho ta một xu bánh đa vừng
ta ngoan hết một ngày
ta ngoan suốt cả năm


Chỉ một xu bánh đa mà sao ta không chỉ ngoan một ngày ngoan một năm có lẽ ngoan cả một đời.
"Ngoan" ở đây là yêu nhớ tuổi thơ yêu nhớ quê hương rộng hơn lớn hơn là tình yêu đất nước yêu Tổ quốc mình - một tình yêu được lấy làm kim chỉ nam cho mọi hành động. Ngày bé thì chăm ngoan học giỏi lớn lên thì thành người có ích đơn giản vậy thôi! "Ngoan" ở đây còn là yêu kính mẹ cha ông bà anh em họ mạc làng xóm. Rộng hơn là tình yêu cộng đồng yêu đồng bào yêu nhân loại. Đó là một tình yêu nhân ái bao la. Vậy mà khởi nguồn cho tình yêu lớn ấy chỉ là từ một xu bánh đa vừng xu bánh đa ấy là tình yêu thương của mẹ cha của ông bà là sự dạy dỗ của ông bà của mẹ cha. Câu thơ hình ảnh thơ làm ta trào dâng những xúc cảm; càng đọc càng suy ngẫm càng thấy hay thấy đẹp thấy sâu sắc và ý nghĩa vô cùng; khiến ta tự thấy ta có gì chưa phải chưa ngoan thì tự nhắc phải ngoan hơn sống tốt hơn vị tha nhân ái và biết tu dưỡng nhiều hơn về bản thân. Thơ là thế văn học là thế tính giáo dục cứ tự thân mà phát tiết chẳng cần hô khẩu hiệu chẳng lên gân càng không giơ nắm tay thề mà sao cứ thẩm thấu dội ngấm đến tận tâm thức tận ý thức tư duy con người.

ta thương mẹ đến trọn đời ta sống
quê hương ta nghèo lắm
ta rửa rau bến sông cho con cá cùng ăn
ta mổ lợn
con quạ khoang cũng ngồi chờ chia thịt
cá dưới sông cũng có tết như người trên bãi sông
ta trồng cây cải tươi
ta ăn lá còn bướm ong thì hút mật
lúa gặt rồi - còn lại rơm thơm
trâu đủng đỉnh nhai cả mùa đông lạnh...


Những câu thơ nhẹ nhàng điềm đạm mang chất tự sự nhưng lại có sức chuyển tải sâu sắc nội hàm của sự sẻ chia yêu thương đùm bọc: r
ửa rau biết dành phần cho cá cùng được ăn mổ lợn biết ném ra những bạc nhạc bèo nhèo cho chim trời cùng hưởng triền cải ven sông trổ hoa vàng là để  ban tặng cho lũ ong đi hút mật; cấy lúa gieo trồng nên hạt thóc để có bát cơm dẻo cơm thơm nhưng vẫn biết dành phần rơm rạ cho trâu bò có cái mà ăn... Đức nhân nghĩa của người Việt ta là thế! Bỗng tôi nhớ câu thơ "Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/Lấy chí nhân để thay cường bạo" trong BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO của Ức Trai. Dẫu áo vải chân đất dẫu nghèo đến rớt cả mùng tơi mà sao nhân nghĩa cao cả đến thế yêu thương đến thế!?

Cùng một bến sông
phía dưới trâu đằm
phía trên ta tắm...
trong ký ức ta
sao ngày xưa yên ổn quá chừng
một dòng xanh trong chảy mãi đến vô cùng!...


Khổ thơ kết trở về với con sông quê hương. Thật đúng như tác giả đã muốn gửi gắm một tình yêu cho dòng sông Cả - sông Mẹ.
Cây đa bến nước sân đình luôn là những hình ảnh trong không gian kiến trúc truyền thống của làng xã rất đáng để lưu giữ trong tâm khảm và ký ức của ta về quê hương về nơi chôn rau cắt rốn. Thuở xưa khi còn tồng ngồng cả lũ với nhau con trai con gái cái thuở "đuổi bướm cạnh cầu ao" cứ lao ra bến sông là trút bỏ thật nhanh áo quần mà lao xuống tắm táp vẫy vùng. Chẳng biết xấu hổ chẳng hề che đậy cứ ngụp lặn hồn nhiên vô tư đến lạ! "Phía dưới trâu đằm/Phía trên ta tắm" - cha mẹ ông bà có mắng thì cũng chỉ là mắng yêu vì ngày xưa ông bà cha mẹ cũng tắm truồng như thế còn gì? Đó là một hình ảnh đẹp một cuộc sống thanh bình; đó cũng là cái đích để ta vươn tới ta vì nó mà sống mà chiến đấu và học tập và giữ gìn. "Sao ngày xưa yên ổn quá chừng" có lẽ từ "yên ổn" là từ bao hàm đầy đủ nhất về khái niệm HÒA BÌNH chăng? "Một dòng xanh trong chảy mãi tới vô cùng" dòng sông ấy là quê hương là mẹ là cha là ông bà là chính chúng ta. Hơn hết đó là một tình yêu đi cùng năm tháng theo ta cùng năm tháng!

More...

"Hồn trong võng gió mát như ôm"

By

 

 

Có lẽ câu ca dao câu hát ru:

"Đêm nằm võng rách còng queo

Bá hộ tới nói chê nghèo không ưng"

đã cực tả cái tính ưa thích nằm võng của bao người?

Người ta thích nằm võng từ lúc nào? - Hình như từ lúc mấy thằng nhóc con ra vườn téc cái bẹ chuối xanh treo giữa hai gốc ổi rồi thay phiên nhau ngồi lên đu đưa? Hình như từ lúc mấy anh câu sông câu mương ngồi ôm cần lâu mỏi lưng mỏi gối bèn đổi tư thế leo nằm trên chùm rễ phụ của bụi rù rì bên bờ nước để vừa nghỉ ngơi vừa nhắp cần câu?

Bao nhiêu đó nghĩ cũng đủ nẩy sinh ra cái ý tưởng làm chiếc võng đu đưa. Ở vùng quê Phủ An đi vào các làng quê người ta dễ gặp những hộ gia đình làm võng. Đàn ông đi thu gom nguyên liệu (thơm tàu xơ dừa...) phụ nữ chế biến (ngâm nguyên liệu kéo xe dây đánh sợi) rồi đan thoăn thoắt chiếc võng mới giống như người đan len ta thường thấy. Đan chừng 1 ngày rưỡi thì xong một cái võng 20 tao 2 ngày xong một cái võng 30 tao 2 ngày hơn xong chiếc võng 40 tao. Người thợ khéo tay nghề làm nên chiếc võng đẹp mắt võng đều võng cân bằng nằm lên không nghiêng không đổ. Các làng võng nổi tiếng là An Ngãi Phò An (An Nhơn) Bồng Sơn Tam Quan (Hoài Nhơn)... Có câu ca dao lưu truyền:


"Anh đi chợ võng Tam Quan

 Mua võng thơm tàu chỉ mất ba quan

Nhà em ở xóm Cây Bàng

Sang chơi ngó hướng ngọn bàng mà sang".

Chợ Tam Quan bán nhiều võng dừa (vì đây là xứ dừa: Công đâu công uổng công thừa/ Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan - Ca dao) nhưng cũng nổi tiếng võng thơm tàu con gái Tam Quan nổi tiếng giọng nói ngọt lịm như nước dừa lửa Tam Quan. Từ chợ Phủ đến các chợ quê chợ nào chẳng có hàng võng. Mặt hàng võng khá phong phú. Phân loại theo nguyên liệu có võng thơm tàu võng trân võng xơ dừa... theo kích thước phải kể võng đơn (20 - 30 tao) võng đôi (40 tao) theo màu sắc có võng nhuộm điều võng nhuộm tía. Nghề làm võng là nghề phụ của nông dân và bao đời họ vẫn nghèo. Nhưng nghề buôn bán võng cũng làm nên phát đạt cho nhiều người như các ông Tàu Bằng Tàu Hữu ở chợ Đập Đá; Bảy Ngon Tám Ngót ở chợ Cây Bông... Từ chiếc võng đan sợi dây thơm tàu sợi dây xơ dừa có thể đã kéo dài ngàn năm (nếu không thì đã không vào ca dao tục ngữ) ngày nay người ta tiến lên võng dây cước võng dây dù võng dây nhợ võng vải ... Cái võng từ trước đến giờ có xu hướng ngày càng gọn nhẹ càng tiện lợi. Thời chiến tranh bộ đội ngủ rừng trên võng võng cũng là hành trang người lính Trường Sơn xưa. Võng tiện lợi là võng có bộ khung riêng cơ động và đang được người thành phố ưa chuộng. Nhưng khi nó được cái tiện lợi di chuyển thì cái thú đu đưa thỏa thích cũng giảm đi nhiều.

Muốn nằm võng êm mà thoáng thì sắm võng thơm tàu. Nằm võng trân võng dây nhợ để lằn trên da thịt. Võng vải không thoáng nằm võng xơ dừa bị xót. Hồi nhỏ mỗi lần ngứa lưng tôi vẫn chạy tới võng (gặp võng xơ dừa càng tốt) hai tay túm lấy chùm tao võng mà xát lưng lia lịa liền được đã ngứa. Nằm võng phải đu đưa đu đưa là thú nằm võng. Tuổi ấu thơ ai chẳng từng nằm võng và từng nghe tiếng võng đưa kẻo kẹt và câu hát ầu ơi của mẹ ru giấc ngủ? Người già nằm võng đơn. Cặp vợ chồng trẻ nhiều khi nhân lúc vắng nhà chất hết lên võng đôi đu đưa cái ước mơ hạnh phúc đôi lứa của mình. Có ai ngờ đâu cái võng đo được sự xứng đôi vừa lứa của một cặp vợ chồng:


"Chồng còng lấy phải vợ còng

Nằm võng thì chật nằm nong thì vừa"

(Ca dao)?

Võng cũng là một loại "phương tiện giao thông" của thời xưa như con ngựa cưỡi cỗ xe ngựa chiếc xe kéo... Ở các làng quê quan hưu trí thầy thư lại tổng lý bá hộ... khi đi đâu ngồi cáng cho người khiên. Cáng là võng nhưng có mái che giống như sõng úp để che mưa nắng có treo rèm màn ở xung quanh có đòn khiên sơn son hai đầu chạm rồng rắn thiếp vàng... Đi theo sau cáng của các ông thường có võng điều võng tía của các bà các tiểu thư. Nhờ giàu trí tưởng tượng thi sĩ còn có võng gió nữa:


"Hồn trong võng gió mát như ôm"

(Xuân Diệu - Tâm sự với Quy Nhơn).

Bởi cứ quan niệm được đi võng là sang trọng cho nên người ta mới đem võng rước thầy thuốc thầy giáo rước bậc trên mình... Dân gian Bình Định vẫn có câu nói: "Có đem võng mà rước ông chưa thèm đi" được áp dụng trong một số trường hợp. Bà tôi vẫn kể cho con cháu nghe: "Hồi xưa anh nho sinh Nghi đi ra kinh dự thi đỗ Tiến sĩ. Hôm anh trở về được làng mang cờ quạt lên tận trên Phủ rước còn vợ chồng Tân khoa thì: Ngựa anh đi trước võng nàng theo sau hiển vang lắm". Hình như bà tôi muốn "khuyến học" lũ con cháu của bà. Còn chuyện ông giáo già trường làng An Định hay kể cũng thật hấp dẫn: "Hồi nghĩa quân Mai Xuân Thưởng đánh nhau với quân Pháp thì cái võng tải thương là xe Hồng Thập Tự của mình đó. Tụi lính Pháp bị thương được Pháp chở trên xe Hồng Thập Tự hụ còi inh ỏi chạy về Quy Nhơn còn nghĩa quân bị thương mình võng về hậu phương điều trị còn nhanh hơn tụi Pháp". Hồi 9 năm kháng chiến ở quê tôi có Bệnh viện Song Thanh (Bệnh viện Quy Nhơn dời lên). Hàng ngày tôi thấy người dân ở các làng quê võng bệnh nhân chạy trên các đường làng.

Võng thường cột ở nhà trên nhà cầu nối nơi hóng được ngọn gió mát. Võng mới võng lành thì mắc trong nhà võng cũ đem cột ngoài hiên ngoài vườn cho có lúc ra nằm chơi. Võng được ưu tiên cho chủ nhà người cao tuổi em thơ bà ru cháu. Chị vú ru em bõ già dỗ con chủ có võng ở nhà dưới. Khách qúy đến chơi thường được chủ nhà mời nằm võng.

Trong chuyến về nước cuối cùng của Nguyệt tôi đã đưa Nguyệt đi xem một phòng triển lãm ảnh nghệ thuật. Chúng tôi được xem mấy bức ảnh chụp ông cụ già nằm võng đọc sách chữ Nho; ảnh chụp vị thiền sư ngồi võng có con chim hồng hạc đứng bên hầu ảnh đen trắng chụp thiếu nữ nằm võng ngủ ngày tóc dài như suối chảy tới đất... Xem xong các tấm ảnh Nguyệt tỏ rất vui và bảo: "Những tấm ảnh đó đã gây cho chúng mình nhiều rung động thẩm mỹ về hồn quê hồn Việt phải không anh?".

Huỳnh Kim Bửu - tp Quy Nhơn Bình Định; ĐT: 0958.501.562

 


CẢM NHẬN CỦA KHẢI NGUYÊN


Những cây viết tản văn tạp bút nổi tiếng ở Việt Nam có lẽ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Viết tản văn thường dùng lối tự sự viết mà như kể như tả nội dung ẩn chứa tính triết lý sâu xa nhiều thâm thúy mang sắc thái biểu cảm chân thành của chủ thể (người viết).

KN đã nhận đã đọc một số tản văn của tác giả Huỳnh Kim Bửu. Rất muốn đưa lên trang blog của mình với một thái độ trân trọng nhưng không thành vì do lỗi fone chữ. Đã đưa nhưng bạn đọc không đọc được KN cứ tiếc mãi... mà ngồi gõ thì thực sự là dịp cuối năm KN không có nhiều thời gian.

Lý giải căn nguyên yêu thích tản văn Huỳnh Kim Bửu bởi một điều đơn giản thôi vì KN là dân nghiên cứu văn hóa dân gian. Đọc CHÕNG TRE TRE BÀ TÔI ĂN TRẦU CHA CON ÔNG THỢ KHÉP CỐI XAY LÚA và NẰM VÕNG THÌ PHẢI ĐU ĐƯA... đó không chỉ là những bút ký tản văn tạp bút hay mà còn là những công trình nghiên cứu văn hóa dân gian rất đặc sắc thể hiện sự nghiên cứu có khoa học có đúc kết có diễn trình khảo tả đến từng chi tiết. Chắc hẳn vì quá yêu quá say mê văn hóa quê mình mà tác giả đã nắn nót bài trí những con chữ bằng tất cả niềm xúc cảm của mình để dệt nên những áng văn đi vào lòng người sâu sắc và tròn trịa như thế chăng?

Mạn phép tác giả ở tản văn này để KN xin được thử góp bàn một ý nhỏ vừa chợt đến: hình như người Việt ta sống trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa thời tiết nóng ẩm mưa nhiều... lắm muỗi nhiều ruồi và cả những con rĩn cứ vo ve quấy nhiễu thật khó chịu... nên ông bà cụ kỵ ta từ thuở xa xưa mới nghĩ ra chuyện "nằm võng" để còn "đu đưa" nhằm xua đuổi giống côn trùng kia đấy nhỉ? Và hình như cả chuyện ăn nằm ngủ nghỉ... người Việt ta cũng vì "khó" mà "ló" những cái "khôn" như đã từng gắp thức ăn bằng đũa nằm đầu hiên đón gió nồm Nam bằng chõng tre phe phẩy cái quạt mo cau để vơ về chút gió trời ngày hạ?!?

More...

Một bài thơ vẽ tạc nên "Mùa xuân vĩnh cửu"

By

 



ĐỌC UYTMAN BÊN BỜ ĐÁ CỬA TÙNG
 
Ngô Minh

tôi gặp người chiều Cửa Tùng gió trở
đá lấp lánh khối đen
hay bóng một thời?
Uytman ơi (*)
sông  Hiền Lương lại xanh mềm lá cỏ
vết chém Hiền Lương trái đất chưa nguôi.

câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá
HỠI TỰ DO CHO MỖI ĐỜI NGƯỜI?

lửa chiến tranh như đã tắt rồi
bài hát yêu nhau gió hát bên đồi
cánh đồng Vĩnh Quang chiều qua bom còn nổ
những quả bom mai phục cỏ tươi.

ở chỗ tận cùng
và đâu đây ngay cạnh chúng tôi

câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá
bọt sóng tung trắng chỗ tôi ngồi
.

tôi thầm hát những bài hát cũ
có hai người yêu nhau thân mật mỉm cười
hai người yêu nhau vô tư như chân trời
tay vốc cát xây ngôi nhà nhỏ
bỗng chạm mảnh bom...

một ngón tay chàng trai máu ứa
anh giơ lên như lá cỏ bên đồi
môi cô gái run run đặt lên ngọn cỏ
chiếc hôn đầu của tuổi lứa đôi

sự sống là thế đấy Uytman ơi!
lửa chiến tranh như đã tắt rồi
những lính Mỹ đã về nước Mỹ
vượt trăm năm và nghìn dặm biển trời.

câu thơ Người đi bộ đến cùng tôi

câu hỏi lớn biển dập dồn hỏi đá

tôi nghe Uytman từ trong đất trả lời.

____________________________
_______
(*): Uytman: Đại thi hào nước Mỹ với tập thơ nổi tiếng "Lá Cỏ"

 


Mùa xuân vĩnh cửu - nhóm tượng khỏa thân
của nhà điêu khắc Pháp Rôđanh (A. Rodin)


LỜI CẢM NHẬN CỦA KHẢI NGUYÊN


Vết khứa nơi vĩ tuyến 17 ngăn cách đôi bờ Hiền Lương không dễ gì quên được bởi chiến tranh. Nhưng thời gian cứ trôi và dòng sông cứ mãi chảy cỏ đôi bờ vẫn mãi xanh. Mở đầu bài thơ tác giả Ngô Minh phác họa vĩ tuyến xưa cùng với cái tên của đại thi hào Mỹ Uytman với tập thơ "Lá cỏ" để anh mượn cớ này làm cỏ cứ hiển hiện xanh. Cỏ xanh đôi bờ sông cỏ xanh cả trên những trái bom còn nằm sót lại cỏ xanh chứng kiến nụ hôn đầu của tình yêu và sự sống.

Thơ Ngô Minh viết về chiến tranh vẫn thường là thế không có tiếng súng tiếng bom mà cứ khứa nhẹ nhàng để người đọc phải nhớ không quên...


có hai người yêu nhau thân mật mỉm cười
hai người yêu nhau vô tư như chân trời
tay vốc cát xây ngôi nhà nhỏ
bỗng chạm mảnh bom.

một ngón tay chàng trai máu ứa
anh giơ lên như lá cỏ bên đồi.
môi cô gái run run đặt lên ngọn cỏ
chiếc hôn đầu của tuổi lứa đôi
.

"yêu thân mật mỉm cười yêu vô tư như chân trời" chắc chỉ có Ngô Minh phác họa được bức tranh tình yêu viên mãn như thế! Tình yêu được chung xây từ quá khứ từ hôm nay để họ bên nhau cùng làm đẹp cuộc đời này dẫu vết tích của chiến tranh vẫn còn đâu đó nhưng họ biết phải vượt qua.

Hình ảnh "ngón tay chàng trai máu ứa" và "anh giơ tay như lá cỏ bên đồi" đẹp quá! Sự sống là thế và hơn thế... để "cô gái đặt lên ngọn cỏ" lên ngón tay máu ứa ấy một nụ hôn đầu.

Bức tượng "Mùa xuân vĩnh cửu" được Rodin sáng tác trên chất liệu đá cẩm thạch nguyên khối khắc họa vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa hòa quyện trong vẻ đẹp hình thể của đôi trai gái đang rừng rực tuổi thanh xuân với những khát khao cháy bỏng trường tồn cùng thời gian thì ở đây... tình yêu nụ hôn của đôi trai gái Việt là hóa thân của "Tình yêu" của "Sự sống vĩnh cửu".


sự sống là thế đấy Uytman ơi!
lửa chiến tranh như đã tắt rồi
những lính Mỹ đã về nước Mỹ
vượt trăm năm và nghìn dặm biển trời
câu thơ Người đi bộ đến cùng tôi
.

Khổ thơ kết như là thông điệp của hôm nay gấp lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai.
Khải Nguyên xin cảm tạ bác Ngô Minh với bài thơ này!
_________________________________________________
_______
Nhân đọc biết tin và mừng sự kiện
tập thơ HUYỀN THOẠI CỬA TÙNG của nhà thơ Ngô Minh đã giành được giải C - Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ IV (2003-2008). Trong đó có bài thơ ĐỌC UYTMAN BÊN BỜ ĐÁ CỬA TÙNG mà Khải Nguyên rất thích đã viết cảm nhận từ ngày 17/6/2008 nay Khải Nguyên xin gom về để lưu lại nơi trang blog cá nhân của Khải Nguyên.

More...

Người đàn bà trong thơ chị Chanhrhum.

By




HỐI TIẾC
Lan Phương KTV - Chanhrhum


Hai chúng ta như hai hành tinh
Sẽ va chạm nhau nếu quá gần
Và tiếp theo là rạn vỡ
Thật sự - không cần?!

Hai chúng ta cùng quá ngạo kiêu
Chẳng ai chịu nhường ai
Mà chiếc cầu đồng cảm chênh vênh chỉ có một
Điều gì sẽ xảy ra
Nếu không ai chịu nhường bước?


Sẽ là sự hối tiếc đến tận cùng
Cho đến khi
Cả hai cùng lăn tòm xuống vực sâu tình cảm.


Sáng ra Nó lên sân thượng tập thể dục thấy một Chú Chim Sẻ nhỏ bé ngậm chiếc lá xanh thẫm bay qua mất hút vào vòm xoài xum xuê nhà hàng xóm. Nó cười buồn chẳng hóa ra không chỉ Loài Người là đôi khi vô lý? Cây xoài kia thiếu gì lá mà Con Sẻ phải bay tận đẩu tận đâu kiếm tìm vật liệu xây tổ ấm của mình?! Trên đường tới cơ quan Nó tự đặt cho mình một quyết tâm: Không nhắn không gọi không trả lời điện thoại và tin nhắn nữa! Chiều  về Nó sẽ sang nhà hàng xóm trèo lên cây để tận mắt xem chiếc tổ bằng lá của Con Chim Sẻ vô lý kia./.


CẢM NHẬN CỦA KN


Từ entry này em mới phát hiện ra thế nào là chanhrhum đó là thứ:

Chua chua vị chanh
Đăng đắng vị rượu
Ngòn ngọt vị đường
Thoang thoảng chút hương

...
Trong Nước có Lửa
Trong Buồn có Vui
...

... mà chị đã đưa vào slogan cho blog của mình. Hình như người đàn bà trong chị khi bóc tách được lớp vỏ vui tươi nghịch ngợm hóm hỉnh kia đi là đầy đặn một hình hài người đàn bà tinh tế nhạy cảm và sâu sắc. Em đọc mà thấy mến người đàn bà biết đối nhân xử thế trong tình yêu đặc biệt là trong những xao động ai mà chẳng có giữa đời thường.




Ca khúc: Unchained Melody
Thể hiện: chị Chanhrhum

 

LỜI HOA
Lan PhươngKTV - Chanhrhum


Như lời Tỏ Tình muộn màng
Giọt Sương đánh thức Bông Hồng quá muộn
Hoa khóc khi nở trong đêm chầm chậm
Tỏa thơm hương buồn...

Bóng những Bông Hồng nghiêng trên bức tường
Giá trị hơn trăm ngàn Cổ Vật
Thay cho Lời Người trong đêm Sinh Nhật:
- Lời dịu dàng
- Lời xót xa!


CẢM NHẬN CỦA KN

Em nghe chị hát bằng cả nỗi niềm của người đàn bà biết yêu. Dẫu hay chưa thật hay nhưng chuẩn về nhạc và hát hết mình chứ chẳng hề hát thử. Chị hát rất tự tin và hào phóng.

Sau đó em đọc LỜI HOA rồi... ngồi im lặng. Im lặng khá lâu để rồi bất giác bài thơ HOA HUỆ của nhà thơ Bế Kiến Quốc cứ vọng về ám ảnh:

Hoa huệ trắng và bức tường cũng trắng

Sao bóng hoa trên tường lại đen?
Em đừng nhìn đi đâu nữa em
Anh không biết vì sao ai có lỗi
Nhưng mãi mãi vẫn còn câu hỏi:
Sao bóng hoa trên tường lại đen?

Hai bài thơ cùng một chủ đề cùng gợi ý niệm về tình yêu và nhân thế; nhưng lại đối nhau bởi ngôn từ của 2 giới tính và sự thể hiện lại ở 2 vùng xoáy lốc thật khác nhau. Một cứ xoáy sâu để câu hỏi lớn mãi chưa có lời giải đáp. Một không chỉ xoáy mà thành lốc để cuốn đi hút theo nhưng có sức mạnh vô biên.

Em thích cách lý giải của người đàn bà trong LỜI HOA. Ở HOA HUỆ - câu hỏi là bất lực của người đàn ông "nông nổi giếng khơi" thì LỜI HOA là câu trả lời mang tâm tính của người đàn bà biết và hiểu sâu sắc tình yêu mang vị đằm thắm và hòa quện giữa trầu - cau - vôi - thuốc của "cơi đựng trầu". Mà đâu chỉ có vậy người đàn bà trong LỜI HOA cảm được cả không gian thời gian và nhìn thấy tầm ảnh hưởng của xoáy sâu hun hút kia và thấy rõ hệ lụy của sức mạnh cơn lốc xoáy... Nhưng trong vòng kiểm tỏa ấy người đàn bà ấy biết dừng lại để dồn nén trong tiếng thở dài:

Giá trị hơn trăm ngàn Cổ Vật
Thay cho Lời Người trong đêm Sinh Nhật:
- Lời dịu dàng
- Lời xót xa!


KN đọc thực sự thấy mến quý và trân trọng.

More...

Kính tặng Mẹ

By


KÍNH TẶNG MẸ
Lê Na

Biết ta thương mẹ giờ này
Nằm thao thức núi
trăng lay nhẹ nhàng
Lên cao thương nhớ màu vàng
Trong sương nghe thấu cao sang trăng trời
Mẹ còn đắp thuốc mẹ ơi
Mà viên gạch nóng đang cời than con
Bao nhiêu mưa nắng héo mòn
Khớp xương nhức ánh trăng tròn đêm nay
Vu lan Tam Đảo ngủ say
Rừng đang sắc thuốc
thơm đầy ánh trăng.




Tôi vừa đi Tam Đảo về. Rất muốn viết một cái gì đó nhưng dường như nhiều điều cứ đan xen khiến tôi thấy mình như cơn lũ tràn về mà gặp phải con đê quá vững chãi. Đọc "Kính tặng mẹ" của bạn tôi như được khơi dòng. Cảm ơn bạn vì điều ấy!

Ai đã lên Tam Đảo mới nhận ra câu thơ "chân đạp mây bay tóc vờn gió núi" của Lưu Trùng Dương thật đẹp! Về đêm sương mù và mây trời cứ hòa vào nhau để cuộn vào lòng thị trấn cái ngai có đủ tay vịn mà như bồng bềnh lan tỏa bảng lảng... đúng không Lê Na?

Bài thơ bạn dâng Mẹ mang dấu ấn của những hình ảnh ấy. Đêm trăng mù sương chút lành lạnh của gió núi những bàng bạc của ánh trăng rừng cứ ngấm dần vào da thịt. Một mình thả bộ trên những con đường quanh co uốn lượn nơi phố núi hay đứng thả hồn bên ban công từ những vòm cửa sổ của ngôi nhà nghỉ cao ngất nhìn ngắm đủ đầy toàn vẹn chiếc ngai xanh đôi tay vịn là hai cánh núi với những tán thông xanh rì vững chãi làm nên dáng núi và thế núi vững vàng trước gió trời cứ táp vào da thịt thổi bung những tà áo mỏng...  Nhưng những bảng lảng bồng bềnh đó lại như thứ men rừng làm ngấu và thẩm thấu cái "tình" trong bài thơ dâng mẹ.


"Kính tặng Mẹ"
của Lê Na như được chắt chiu từ tâm thức để làm thành những ngọt ngào sâu lắng chứa chan. Hình ảnh viên gạch được hơ nóng rồi đắp lá thuốc lên trên áp vào chỗ xương đau nhức của người mẹ già bát thuốc bắc mới sắc xong hương thuốc và hương tình mẫu tử như làm ai đó ngắm trăng mà se lạnh nỗi niềm.

Thế núi làm nên sự vững vàng cảnh sắc và mây trời làm cảm giác ta mơ màng tưởng như  tất cả chìm trong tĩnh lặng vậy mà "tấm chân tình" lại hiện hữu đến từng sự vật hiện tượng như viên gạch bát nước thuốc ai chăm Mẹ mỗi ngày. Hương thuốc lan tỏa trong hương rừng thành hương rừng:

Vu Lan Tam Đảo ngủ say
Rừng đang sắc thuốc
Thơm đầy ánh trăng.


Có lẽ đó là những câu thơ đẹp nhất làm lay động tâm thức tôi nhiều nhất... trong bài thơ về Mẹ đầy ấm áp và nhiều lắng
sâu này!

Tôi không tham vọng bình thơ Lê Na vì tôi đơn giản chỉ là tôi tôi cảm những gì mình tự nhận thấy trong "Kính tặng mẹ" rồi tự thấy lòng mình như cũng lắng sâu thêm cùng tác giả trong cái tình chẳng thể đếm đo dành cho bậc sinh thành.

Hà Nội cách Tam Đảo chẳng bao xa lên với núi là để thưởng ngoạn và tìm cảm giác mát lạ của ốc đảo giữa sa mạc nóng ran. Nhưng tận góc sâu của tâm hồn mình như được khơi gợi đủ hình hài góc cạnh của một khối tình - khối tình dành cho Mẹ yêu ngày lễ Vu Lan cùng "Kính tặng Mẹ" của Lê Na.


Xin được nói lời cảm ơn tới bạn một lần nữa!

 


 

 

More...

Lá thu ngày ấy... bây giờ?

By




 


LÁ THU NGÀY ẤY... BÂY GIỜ?

Khải Nguyên

Anh trở về tìm lại lá thu xưa
Người nhặt lá... đi đâu rồi chẳng biết?
Thu vẫn trong anh mà người sao biền biệt
Chiếc lá hóa dằm... vời vợi gió heo may.

Anh vớt thu sóng sánh đến nhường này
Mà vô vọng... trắng trơn bàn tay nhỏ.
Lá thu ơi... có đi về ngang ngõ
Hãy một lần cho anh biết... nghe không?

Thu đã sang từ bến... nửa dòng sông
Bàng bạc nhớ bàng bạc chiều ngóng đợi
Anh vẫn trông về bên kia vời vợi
Hẳn đò đầy... thì đò phải sang sông?

Lá thu ơi còn xanh biếc nữa không?
Hay vàng úa cả nụ hôn ngày ấy?
Lá thu bay... bay về đâu thế vậy?
Để nỗi buồn cứ rưng rức... chia hai.

Bài cảm nhận của Hoa Nắng:

Chân dung một con người cũng như thơ để cảm nhận hay hiểu về nó có ai dám khẳng định mình đã hiểu đã cảm nhận đúng tâm trạng cũng như cảm xúc của người thơ? Không đó chỉ là một góc của sự cảm nhận của riêng mỗi người mà thôi!

Cũng như tôi trước một bài thơ mà mình cho là hay biết đâu với người khác lại là dở... Tuy nhiên cái hay của bài thơ mà khi đọc lên ai cũng hình dung cũng như nhìn thấy cảm nhận thấy nỗi đau nỗi buồn hay niềm vui reo vỡ òa trước mỗi vần thơ để cho ta đủ cảm thấy một chút bâng khuâng một chút luyến nhớ một chút đồng cảm. Khi đó chính là những cảm nhận của ta về mỗi bài thơ hay.

Bài thơ "Lá thu ngày ấy... bây giờ?" đã thể hiện được điều ấy đã lột tả được một cái gì đó xa xăm lắm mênh mang lắm... ngày ấy là kỷ niệm tác giả mượn chiếc lá thu để nhắc nhớ kỷ niệm... Tên bài thơ đủ cho ta thấy một quãng thời gian và không gian như thế ngày ấy... là bao giờ? Không ai có thể đoán chỉ biết rằng ngày ấy... chắc là xa... xa lắm gần cũng gần lắm... mong manh.

Khoảng không gian và ký ức thời gian ấy được thể hiện rõ nét hơn bằng hình ảnh "anh về nhặt lại...". Có những điều tưởng chừng như là đã xa rất xa ấy được đặt bên câu thơ "thu vẫn ở trong anh..." tất cả những điều xa xăm ấy kỷ niệm ấy vẫn ở trong anh để hóa thành một nỗi đau một chiếc rằm trong tim buốt nhói để mỗi độ thu về cứ vời vợi một ký ức mênh mang.

Anh trở về tìm lại lá thu xưa
Người nhặt lá... đi đâu rồi chẳng biết?
Thu vẫn trong anh mà người sao biền biệt
Chiếc lá hóa dằm... vời vợi gió heo may...

Tình yêu hạnh phúc có mấy ai có thể nắm giữ cả đời không một làn buông tay để khi mình vụt mất rồi mới thấy xót xa... hình ảnh vớt thu cho ta liên tưởng tới một điều gì đó nuối tiếc khôn nguôi... lá thu đi biết khi nào trở lại? cũng như em như tình yêu kỷ niệm ngày ấy còn không em? Còn không mùa thu ơi?! để anh tìm về đây chốn cũ chỉ còn là nốt lặng của bản nhạc chiều thu đã lỡ rồi cuộc hành trình đời nhau...

"Thu ... đã sang từ bến nửa dòng đông"

Một chút gì đó nghẹn lời trong tim một nỗi đau hằn lên nỗi như se sắt cả khung trời của cái màu bàng bạc hư vô. Anh tìm về nơi bến cũ ngày xưa... kỷ niệm vẫn còn đây mà người nay đã sang sông... thu đã đi qua mùa để một người dõi mắt nhìn theo đau đáu một nỗi buồn ở lại đến mênh mang.

Anh vớt thu sóng sánh đến nhường này
Mà vô vọng... trắng trơn bàn tày nhỏ
Lá thu ơi... có đi về ngang ngõ
Hãy một lần cho anh biết... nghe không?

Thu đã sang từ bến... nửa dòng sông
Bàng bạc nhớ bàng bạc chiều ngóng đợi
Anh vẫn trông về bên kia vời vợi
Hẳn đò đầy... thì đò phải sang sông?

Có gì đau khổ hơn khi cuộc tình đành rẽ lối sang ngang? Em sang sông rồi mà lòng còn ở lại... lá xa cành còn tươi mãi sao anh?! Ở khổ thơ cuối ta bắt gặp hình ảnh lá thu một lần nữa trong nỗi niềm khắc khoải nhớ thương... ngập ngừng "còn xanh biếc nữa không?" em còn yêu anh không? Kỷ niệm ơi kỷ niệm còn đây mà em đã đi rồi! "lá thu ... bay về đâu thế..." em?! Giờ này em đang ở đâu để nỗi buồn chia hai ngả đau đáu mãi khôn nguôi?!

Lá thu ơi còn xanh biếc nữa không?
Hay vàng úa cả nụ hôn ngày ấy?
Lá thu bay... bay về đâu thế vậy?
Để nỗi buồn cứ rưng rức... chia hai...?!

Bài thơ "Lá thu ngày ấy... bây giờ?" đã lột tả được những nỗi buồn của một tình yêu chia xa bằng những hình ảnh những câu thơ tô đậm nỗi mong chờ nhớ nhung đến cháy bỏng... bài thơ đã thể hiện thành công khi lồng ghép trong bài thơ là một nỗi buồn xuyên suốt mấy khổ thơ khiến cho người đọc như lây một nỗi buồn đến độ bâng khuâng khi dừng lại ở câu thơ cuối:

"Để nỗi buồn cứ rưng rức... chia hai."

Đối với tôi đây là một bài thơ hay bài thơ đã khắc họa được cái tình của người con trai với những kỷ niệm cũ về mùa thu về tình yêu xưa. Bài thơ giàu hình ảnh nhân hóa đã làm người đọc cũng lay lắt bảng lảng yêu nhớ về một nỗi buồn rất thu... vừa da diết vừa lắng đọng tâm tư...

Hoa Nắng

More...