Phong tục uống rượu của người Thái ở Tây Bắc

By



Có thể không ngần ngại để nói: sáng tạo mang tính phổ biến nhất của nhân loại là nước uống lên men. Rượu và vị thần rượu có mặt không chỉ trong thần thoại của nhiều tộc người từ Đông sang Tây mà trong tín ngưỡng - phong tục đó là nhu cầu là chất xúc tác không thể thiếu trong môi trường và không gian tiếp xúc với thần linh với giới vô hình lẫn hữu hình mà chúng ta thường hay gọi là "vô tửu bất thành lễ".

Với người Thái uống rượu không thể thiếu trong sinh hoạt lễ hội cưới xin. Hòa trong rượu là tình người tình yêu đôi lứa tình yêu bản mường. Khách đến nhà phải có mâm cơm chén rượu; cúng lễ cưới xin lên nhà mới... là có rượu nâng rượu mời.

1. Uống rượu khi có người thân bạn hữu đến thăm nhà:

Khách đến thăm bất cứ lúc nào cho dù ban đêm cũng phải có mâm cơm chén rượu. Nhà nghèo chỉ cần có rau dăm cái măng đắng một cặp cá nướng nho nhỏ một "thuổi chéo" (bát nước chấm) là đã lên mâm nên bữa.

Nhưng phần lớn khách đến nhà là chủ mổ gà mổ vịt. Có khi cả lợn. Nếu mổ gà vịt khi bày mâm phải để nguyên đôi chân 2 cái đùi và cái đầu bày riêng ra 1 đĩa với mục đích: trình khách biết và nói lên ý nghĩa "khách đến chủ nhà mổ gà vịt để thết đãi".

Người Thái đen có câu "Pay xấu kin pa xấu má kin cáy" (mình đi nhà người ăn cá người về nhà mình ăn gà) là như vậy.

Khi có khách đến nhà uống rượu không bao giờ gia chủ bỏ quên 2 người hàng xóm. Một nhà bên phải một nhà bên trái. Cũng không cần mời chào cầu kỳ. Sau khi dọn xong mâm rượu chỉ cần "ới ới" mấy tiếng là hai người hàng xóm đã có mặt. Có thể họ chỉ đến không cũng có thể họ mang theo chai rượu ngon sang cùng uống. Đã vào mâm là phong thái đĩnh đạc không tính thời gian. Có thể là một ngày một đêm cũng có thể lâu hơn. Khách uống được nhiều càng tốt say nhiều càng vui. Vì thế mới thể hiện là khách mến chủ chủ quý khách.

Trên mâm rượu mời khách thường để hai cái chén không. Trước khi uống người khách cầm chén rượu của mình tự rót vào 2 chén đó mỗi chén một chút sau đó dùng ngón tay út của bàn tay phải chấm và chén rượu của mình búng về phía sau vai bên phải rồi chấm tiếp giọt thứ 2 búng qua vai bên trái tỏ ý: tôn kính tổ tiên. Nếu ở xa 2 chén đó thì khẽ nghiêng chén rượu của mình để nhỏ chút rượu xuống sàn nhà đó cũng là dấu hiệu của sự tôn kính ý nghĩa kia.

Khi uống chén thứ nhất và chén thứ hai bắt buộc khách phải uống cạn với ý nghĩa: khách đi đường xa đến thăm đôi chân mỏi mệt phải uống hai chén liền cho đôi chân khỏe lại.

Lúc khách ngồi uống rượu thì vợ hoặc con gái chủ nhà phải ngồi ở gần bếp để lấy rượu làm thêm thức ăn hoặc hâm nóng thức ăn. Gọi là "châự lẩu" (giúp mâm rượu được chu đáo) họ coi đó là là điều tự hào. Chừng mâm rượu gần xong mới đi trải đệm khuôn chăn lấy gối buông màn chuẩn bị cho khách ngủ. Người phụ nữ Thái không quên chuẩn bị một chậu nước ấm có mấy lát chanh và chiếc khăn để khách rửa tay lau miệng sau khi ăn xong. Người con trai lớn hoặc con rể được ngồi cùng mâm để giót rượu thay người mẹ.

Khi uống ngà ngà say là "khắp" (hát). Có rượu là có hát hát để chúc tụng sức khoẻ hạnh phúc ăn nên làm ra khen ngợi lòng mến khách khen bà chủ giỏi giang. Thông thường thì khách hát trước sau thì chủ hát đáp lại. Đêm càng khuya tình cảm khách chủ càng thắm thiết bện lại với nhau.

Nếu khách là người dân tộc khác từ nơi xa đến thì tình cảm càng gắn bó đặc biệt. Vừa uống chủ nhà vừa hỏi han sức khoẻ công tác hoàn cảnh gia đình rồi gia chủ mượn những câu chuyện tâm tình đó để mời khách uống rượu một cách cực kỳ khéo léo gần như ép khách phải uống. VD: Hai chân hai tay hai chén; 10 đầu ngón chân 10 đầu ngón tay 10 chén. Lại nữa khách có bao nhiêu người ruột thịt trong gia đình thì phải uống thay bấy nhiêu chén chén gửi cho cha cho mẹ cho vợ cho con... cho cả người yêu nữa...

Rượu và thời gian uống hiện nay đã giảm nhưng tình cảm và lòng mến khách quý khách của người Thái vẫn mãi vẹn nguyên.

2. Uống rượu lên nhà mới:

Người Thái thường làm nhà lên nhà mới sau mùa gặt chính (khoảng tháng 11 dương lịch). Đó là mùa khô hanh có nhiều thuận lợi. Trong bản có gia đình lên nhà mới là bà con trong bản và các bản khác đến cùng vui uống rượu và xòe hát chúc mừng. Gia chủ phải có lời mời trước tốp đi mời thường có 3 người đều là nữ
: một người luống tuổi nói năng hoạt bát có bài bản hẳn hoi. hai thanh nữ chưa có chồng đi theo.

Sau khi lên nhà thì tốp đi mời ngồi đối diện thường là ở gần bếp đun trên sàn Người đại diện tốp đi mời dùng bàn tay phải gần như che miệng rồi mới mời theo vần điệu gần như một bài hát. Đợi khi gia chủ nhận lời cảm ơn rồi mới xin phép đi mời nhà khác.

Uống rượu lên nhà mời đám cưới đám cúng không phân biệt đàn ông đàn bà lứa tuổi. Ai đi được là đi ai đến được là đến. Bà con đến không chỉ để uống rượu mà còn để thưởng thức văn hóa. Mâm rượu tập thể không phân ra 4 người 6 người. Thông thường là dùng gỗ ván xẻ đặt dọc nối tiếp theo chiều nhà. Người ít thì một dãy người nhiều thì 2 dãy. Mặt trên trải lá chuối rừng để bày thức ăn như: thịt luộc thịt xào măng xôi rau sống...

Người uống rượu ngồi dọc theo hai dãy bàn. Bên giáp vách nhà còn được trải một lớp đệm giành cho những người khách cao tuổi. Các cụ bà và con gái ngồi "tắng" (ghế mây thấp) về một phía.

Trong lúc mọi người đung uống thì nam nữ thanh niên đánh trống xoè hát ở phía cửa "tang quản" (cửa dành cho tiếp khách lên nhà). Ông chủ nhà buộc phải ngồi chỗ trung tâm mâm rượu và tất nhiên chỉ uống mức độ để còn tỉnh táo lắng nghe cảm nhận những lời chúc tốt lành của khách.

Nhịp trống nhịp xòe làm cho ngôi nhà như có khí thiêng chuyển động rùng rùng; tâm hồn con người như bay bổng. Hai bài hát thông lệ mở đầu là "khắp khả khấu hồn" và "khắp xắp hính" ý nghĩa của hai bài này là xua đuổi hết khí độc ma tà cho không khí ngôi nhà được trong lành chủ nhà ăn nên làm ra vui tươi khỏe mạnh suốt đời.

Tiệc rượu trong ngôi nhà mới cứ cuốn hút mọi người tâm hồn sảng khoái chia vui với gia chủ. Mỗi đám lên nhà mới trước đây thường kéo dài 3 ngày 3 đêm tốn kém của cải. Nay đã giảm đi rất nhiều thường chỉ một bữa và cscs gia đình đến uống rượu có những đóng góp nho nhỏ để giảm thiểu những tốn kém cho gia chủ.

3. Uống rượu trong đám cưới:

Đám cưới có thể là hai hình thức đón dâu và đón rể. Được gọi gộp là "xú phau xú mía". Rượu trong đám cưới là rượu đông vui nhất để mừng hạnh phúc cho lứa đôi. Cưới to hay cưới nhỏ là tùy thuộc hoàn cảnh của 2 gia đình. Nhà nghèo thì mổ gà mổ lợn. Nhà có thì mổ trâu mổ bò và các loại đặc sản do nhà trai lo liệu.

Cách mời và bài trí cũng như lên nhà mới. Sau khi cúng ông bà tổ tiên xong thì mọi người ngồi vào mâm rượu. Người chủ đứng giữa nhà chắp hai tay trước ngực mời mọi người nâng chén chúc mừng hạnh phúc cho cô dâu chú rể cho gia đình họ hàng nội ngoại đôi bên. Tiếng Thái gọi là "quám cáo pông hặc pông chaư" (chén rượu đầu tiên gia chủ mời bắt buộc phải uống cạn). Uống xong phải dơ chén dốc ngược xuống nếu còn giọt rượu rỏ xuống mâm thì người đó bị phạt uống 1 hoặc 2 chén tiếp.

Tiệc rượu diễn ra chừng 2 đến 3 giờ. Cô dâu chsu rể mới xuất hiện. Cô dâu đi trước hai tay bưng một cái "hổ" (loại đĩa đan bằng mây hoặc tre có hình vuông). Trên "hổ" bày hơn chục chén rượu đầy. Chú rể theo sau tay cầm 1 2 chai rượu đi mời khách. Trước hết là mời các già bản các ông mối bà mối các cha mẹ đến mời người nào thì cả cô dâu và chú rể đều phải quỳ xuống nâng "hổ" lên. "Lẩu phậu lẩu khơi" (rượu dâu rượu rể) nên bắt buộc người được mời phải uống cạn.

Sau đó thì mừng lại cô dâu chú rể có thể bằng tiền hoặc những vật quý. Nhưng chỉ ít thôi. Tiền ngày xưa là 1 2 đồng. Nay là 5 10 20 nghìn. Tất cả đều do lòng hảo tâm của khách không có phong bì bỏ túi sẵn.

Khi tâm hồn mọi người đã bay bổng trong hơi men tiệc rượu chuyển sang vừa uống vừa hát. Đây được coi là hình thức sinh hoạt văn hóa không thể thiếu trong lễ cưới. Nội dung các bài hát cưới được tập trung kể về công lao sinh thành dưỡng dục của cha mẹ "tản hặc tản chaư". Sau mỗi bài hát mọi người lại nâng chén uống cạn chúc mừng. Cô dâu chú rể cũng nhận được những lời hát chúc mừng vừa có tính giáo dục căn dặn trách nhiệm của lứa đôi.

Chẳng hạn giáo dục chú rể "mạy cha xin cốc túc pa khẻ pa tộc pói nong" (chặt cây sấu cây sâng sát cội; đánh bắt chiên bắt cá thả ao). Cô dâu thường được nghe hát bào "ón é" (bé thơ) kể lại từ khi mẹ thèm của chua đến 9 tháng 10 ngày mang nặng đẻ đau nuôi dưỡng thành người. Đi làm dâu phải chịu thương chịu khó "pú phắc chí chăm co; pu hom chí chăn cản" (trồng rau phải mập cây trồng hành phải mượt lá).

Sau mỗi giai đoạn hát mừng lại có hình thức vui khác để mời và thách đố nhau uống rượu. Có tục "kin lẩu pín buống" (uống rượu quay thìa). Mâm rượu được chia thành nhiều tốp: 6 người 8 người một tốp. Cái thìa được đặt lên đĩa. Một người cầm cái đũa đánh mạnh vào cán thìa chiếc thìa quay tít khi dừng lại cán thìa chỉ vào ai thì người đó phải uống; có thể uống 1 hoặc 2 chén tùy theo quy ước. Uống cạn rượu mọi người vỗ tay chúc mừng.

Dụng cụ uống rất đa dạng. Thông thường là bằng chén hoa hồng chén loại nhỏ gọi là "chén mắt trâu". Có nơi lại uống bằng "thuổi choóng" (bát ăn cơm). Dù chén hay bát đều phải rót đầy và phải uống cạn như quy ước.

4. Uống rượu trong cúng lễ ma chay:

Phong tục người Thái hàng năm có cúng bản (xên bản) cúng nhà (xên hươn) cúng cho người ốm khỏi bệnh (xên phắn bẻ xên một lao...)... Mỗi cuộc đều có hai phần: Phần một do ông "mo" (thầy cúng" đảm trách phần còn lại là uống rượu hát vui...

Trong tiệc khi mọi người đã ngà ngà say thì "lẩu mo" (rượu của thầy cúng) mới được đem ra mời. "Lẩu mo" thực chất không phải rượu do thầy cúng mang đến mà là rượu đặc sắc của gia chủ mời được chưng cất rất kỳ công và chỉ dành cho cúng tế được nấu bằng nếp tan thơm; men lá rừng rất khó kiếm. Rượu chỉ lấy trong lần đầu tiên rồi lại nấu lại lần hai. Nên nhiều người gọi "lẩu mo" là "lẩu xoong siêu" (rượu nấu hai lần). Rượu có nồng độ nặng nên không uống được nhiều nên còn được gọi một cái tên khác "lẩu cang có" (rượu uống vào cứ ngang cổ họng).

Tập quán người Thái: uống rượu là phải say. Người uống được nhiều cũng say và người uống được ít cũng phải say ai không say là thiếu thiện chí thiếu nhiệt tình. Nếu chưa say và muốn dừng ở đó thì đứng lên chắp hai tay trước ngực rồi nâng đôi đũa ngang mặt xin phép tạm nghỉ. Người say có thể nghỉ tại chỗ tỉnh lại uống tiếp. Người say được đối xử lịch thiệp và chăm sóc chu đáo không bao giờ to tiếng hoặc nói xằng bậy chỉ có vui và hát. Gia chủ luôn là người trải đệm xếp chăn gối và buông màn cho người say nằm nghỉ. Với khách xa khách quý còn được 2 cô gái ngồi hai bên quạt mát. Có khi còn được các cô gái ép thêm vài chén nữa mới được nghỉ yên thân.

Khách ở bản xa đến gia chủ có trách nhiệm cõng dìu hoặc đưa về nhà. Trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện hài: Có chàng rể cõng bố vợ về nhà đi qua suối trượt chân bố vợ rơi xuống nước chàng rể lo lắng. Loay hoay mãi mới vực được bố vợ lên và đi tiếp. Đến nhà mọi người lại rất vui vẻ khen ngợi người say và người đã có công: Thế mới gọi là đi uống rượu chứ!


More...

Các con đừng vứt đi như thế!

By

T ặng Ò - cô học trò điền dã online của anh!

Về bản. Như mọi lần chúng tôi mang theo lương khô mì tôm bột canh chai nước mắm cùng mấy gói bích quy hương thảo kẹo mềm vài gói chè vài phong thuốc lào nữa. Hành trang mang theo vẫn là giấy bút máy móc thiết bị cho chuyến điền dã vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mì tôm để ăn nhanh lương khô cũng thế vì điền dã: ăn ngủ cũng là làm việc. Nước mắm bột canh là để dễ ăn hơn có sức thì mới làm như thiêu thân được chứ. Gói bánh gói chè phong thuốc lào để biếu người già mấy gói kẹo cho trẻ con… Người già thì rưng rưng trẻ con thì mắt sáng cộ. Nhìn bọn trẻ vui một mình vui mười. Những mái tóc vàng hoe vì nắng áo quần chưa lành lặn mặt mũi nhem nhuốc lọ lem thế mà cái miệng cười thật vui hai hàm răng thật trắng khiến chúng tôi quên cả đói và mệt.

Đêm qua về đến bản đã quá khuya nhá phong lương khô uống mấy ngụm nước đủ để có một giấc ngủ ngon. Sáng sớm cả nhóm lục tục dậy cùng người già. Cậu trẻ nhất úp mấy gói mì tôm bát đầu tiên tôi bưng cho bố. Ông ngồi bên bếp lửa chòm râu đen chứ không bạc cứ rung rung đôi mắt sáng long lanh. Mẹ đang lo đun ấm nước. Chị con dâu đang cho đàn lợn ăn để tiếng kêu của chúng khỏi rát lòng hàng xóm. Chồng chị - anh trưởng bản xuống nhà bác bí thư để bàn chuyện lễ hội ngày mai ngay từ lúc chúng tôi còn chưa ra khỏi giường. Bọn trẻ thì vẫn ngủ ngon giấc.


Bố ăn cùng chúng tôi anh trưởng đoàn nói: “chúng con phần cho mẹ anh chị và các cháu rồi mời bố!”. Bố ăn từ tốn nhưng tôi biết bố đang ăn rất ngon như để muốn giữ mãi cái dư vị thơm nồng cay cay của mì tôm mang lên từ Hà Nội. Chúng tôi thì húp soằm soặp mì tôm cay nóng lại có nước bù lại miếng lương khô khó nuốt đêm qua.


Ăn được vài miếng bỗng nghe bố kể: tháng trước có đoàn khách của Uỷ ban dân tộc về bản bản mổ lợn mổ gà làm cơm mời đoàn uống rượu nữa… vui lắm. Có hai cháu gái lần đầu lên vùng cao không ăn được da gà thịt mỡ cứ xé mỡ xé da vứt xuống gầm bàn lấy giầy di đi di lại bố thấy thế tiếc quá bố bảo: “Các con không ăn được thì đừng vứt đi như thế để người khác ăn được sẽ ăn”.


Cậu trẻ nhất đoàn vừa húp ực miếng mì tôm cuối cùng nhanh nhảu nói: “chắc hai cô ấy lên lần đầu đấy bố ạ!” Bố cười thật hiền: “Ừ bố biết chứ nên mới nhắc. Vì chưa quen nên ngại để lại trên mâm sợ người khác nghĩ là bỏ thừa di chân là để không cho ai biết. Nhưng dân mình nhiều người ăn còn chưa đủ no bỏ đi những thứ quý ấy tiếc lắm”.


Rồi bố quay sang tôi: “con gà con lợn ăn hạt thóc hạt ngô là chúng ăn cả phần của con người mà!’. Miệng tôi đắng ngắt cổ tôi nghẹn lại. Lời người già thật sâu sắc giọng người già thật hiền. Cái lý của người vùng cao cứ chân chất mà thấm đẫm tình người qua những lời răn dạy.


Mấy anh em chúng tôi nhìn nhau rồi cùng nhìn bố. Bố ăn ngon quá. Chòm râu cứ rung rinh đôi mắt cứ ánh lên bên bếp lửa. "Các con không ăn được thì đừng vứt đi như thế để người khác ăn được sẽ ăn” – Câu nói như lời răn dạy giản đơn mà sâu sắc làm sao.


- Hà Nội ngày 9/9/2007 -

More...

Muối mặn - Gừng cay

By


Một biểu tượng kép về sự thuỷ chung trong ca dao: Muối mặn - Gừng cay
- Ths. Triều Nguyên Hội VNDG Thừa Thiên - Huế -  


Là hình ảnh tượng trưng thể hiện quan niệm tình cảm của con người về nhân sinh vũ trụ biểu tượng được sử dụng trong văn học khá đa dạng. Riêng ca dao. Nguyễn Xuân Kính đã ghi nhận 7 nhóm biểu tượng: 

1. Trăng sao mây gió... (hiện tượng tự nhiên)
2. Có cây hoa lá... (thế giới thực vật)
3. Rồng phượng chim muông... (thế giới động vật)
4. Áo khăn gương lược mũ giày... (các đồ dùng cá nhân)
5. Chăn chiếu giường mâm bát… (các dụng cụ sinh hoạt gia đình)
6. Thuyền lưới đó lờ gàu…các công cụ sản xuất)
7. Nhà đình cầu… (các công trình kiến trúc) 

Ba nhóm đầu là những biểu tượng thuộc thế giới các hiện tượng thiên nhiên tự nhiên; bốn nhóm sau là những biểu tượng của thế giới nhân tạo. Sự phân loại trên cho thấy diện mạo phong phú của biểu tượng trong ca dao và nó có khả năng bao hàm được hầu hết các biểu tượng.

Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi về lĩnh vực này thì một số biểu tượng kép cũng cần được quan tâm mà muối mặn - gừng cay là một ví dụ.Bài ca dao xin được trích dẫn ra trước tiên ở đây là bài được nhiều tập sưu tầm ca dao ra đời vào loại sớm nhất cùng giới thiệu và có lẽ được nhiều người thuộc nhất: 

(a1) Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng có quên 

Có ba bài ca dao theo thể lục bát khác có chưa gọn bài này (có đôi chỗ khác biệt) một thuộc “dân ca quan họ Bắc Ninh”: 

(a2) Tay tiên chuốc chén rượu đào
Đổ đi thì tiếc uống vào thì say
Tay bưng chén muối đĩa vừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau 

một thuộc “dân ca Bình Trị Thiên”: 

(a3) Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau
Tay bưng đĩa muối sàng rau
Căn duyên ông trời định bỏ nhau sao đành. 

và một thuộc Quảng Nam – Đà Nẵng: 

(a4) Tay bưng đĩa muối chấm gừng
Gừng cay muối mặn ta biểu đừng tưởng tơ
Gió ngọt ngào nhiều ngọn xơ rơ
Con chim vào lồng thậm khó con cá vào lờ thậm gay 

với thể song thất lục bát ở Nghệ Tĩnh có bài:

(b1) Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Có xa nhau đi nữa ba vạn sáu ngàn ngày mới xa. 

ở Bình Trị Thiên có: 

(b2) Muối để ba năm muối hãy còn mặn
Gừng ngâm chín tháng gừng hãy còn cay
Đã có lời chàng đó thiếp đây
Can chi lo chuyện đổi thay rứa chàng 

(b3) Muối mặn ba năm còn mặn
Gừng cay chín tháng còn cay
Dù ai xuyên tạc lá lay
Sắt son nguyệt giữ lòng này thuỷ chung 

(b4) Muối mặn ba năm còn mặn
Gừng cay chín tháng còn cay
Để anh lên xuống cho dày
Bao giờ thầy mẹ không gả em cũng bày mùi cho 

(b5) Muối ba năm muối hãy còn mặn
Gừng chín nước gừng hãy còn cay
Nợ nhà giàu có thì trả không thì vay
Duyên chàng nợ thiếp chớ đổi thay bạn cười 

(b6) Muối ba năm muối hãy còn mặn
Gừng chín nước gừng hãy còn cay
Đạo vợ chồng chớ có đổi thay
May thì đặng câu danh vọng rủi ăn mày cũng theo nhau

ở Quảng Nam – Đà Nẵng có:

(b7) Hạt muối mặn ba năm còn mặn
Lát gừng cay chín tháng còn cay
Hai ta ơn trượng nghĩa dày
Chưa bao năm tháng dứt rày nghĩa nhơn

(b8) Hạt muối ba năm còn mặn
Lát gừng cay sắc chín nước còn cay
Anh thương em cha mẹ không hay
Ngọn đèn trao trước gió chẳng biết xoay phương nào

Bài (a1) như một lời khấn thầm không hò (hát) thành lời hoặc đây chỉ là một hành động tượng trưng mang tính quy ước của một nghi lễ mà ý nghĩa của nó đã được cộng đồng thừa nhận. Hoàng Phủ Ngọc Tường có viết: “Theo phong tục Huế trong đêm tân hôn cô dau chú rể làm lễ cúng tớ hồng lễ vật chỉ có khoai lang muối và gừng. Đó là lời nguyện lấy cái tâm đẻ sống với nhau trọn đời”. Lễ vật dâng cúng mang tính trần thế ý nghĩa biểu hiện “cay” và “mặn” là đặc tính của gừng và muối hai mùi vị cần thiết và khó quên đối với con người. Cần thiết thì ai cũng biết còn khó quên thì hẳn phải nói vài lời.

Không phải ngẫu nhiên mà các từ có yếu tố “cay” đều có chung nét nghĩa bất ổn không lành (cay cú cay cực cay đắng cay độc cay nghiệt chua cay sâu cay…) còn các từ có yếu tố “mặn” thì lại thể hiện sự thân thiết gắn kết (mặn mà mặn mòi mặn nồng…). Trong các vị thông thường thì cay đắng thuộc dương; mặn ngọt chua thuộc âm. “Cay” gây ra bứt rứt nóng nảy “cay như hớt” “cà cuống chết đến đít vẫn còn cay” quả là khó quên. “Mặn” hầu như không có tác dụng ngay mà âm ỉ theo thời gian “ăn mặn khát nước” (đời cha ăn mặn đời con khát nước) hoặc phải út kinh nghiệm “mặn mất ngon giận mất khôn” cũng không phải dễ quên.

Xét mặt “mùi đời” có thể coi đây là hai “vị chủ” tiêu biểu cho mặn nồng và cay đắng hai trạng thái của con người hay hai cách cư xử về một con người.  Nhấn mạnh “cay” “mặn”; hai mặt đối lập của một chỉnh thể (“đĩa muối chấm gừng”) như vậy cho thấy sự nhìn nhận vấn đề hôn nhân rất khách quan: cay đắng hay mặn nồng là hai trạng thái tình huống song song tồn tại trong quan hệ vợ chồng quan hệ giữa người khác với vợ chồng: đó là cuộc đời là con người là bình thường. Quả là không có lời thề nào sâu sắc như vậy vì không thể tìm ra một kẽ hở bào để vin vào khi bội ước hay muốn giải thể (phải chăng đây là lý do để tạo nên “tình trạng ly hôn có tỷ lệ rất nhỏ trong cộng đồng người Huế”). 

Bài (a2) có cặp lục bát đầu với thức uống sang (“rượu đào’) người đẹp (“tay tiên”) trong lúc thái độ của nhân vật lại nước đôi (“đổ đi thì tiếc uống vào thì say”). Ở bài (a3) cặp câu sau có tác dụng hỗ trợ về nghĩa. Còn với (a4) lại như một sự dặn dò về đạo làm vợ làm chồng sau khi khẳng định giá trị của “gừng cay muối mặn”.

Có thể thấy rằng những bài lục bát này cùng tập trung ý nghĩa như bài (a1) mà chúng ta diễn giải.  Tám bài song thất lục bát đều có chung cặp thất nhằm thể hiện sự lâu bền của đặc tính “mặn” “cay” ở muối và gừng. Có một lưu ý về cấu trúc nếu ở bài (a1) cặp lục bát được hình thành theo chén muối đĩa gừng” - gừng cay muối mặn thì cặp thất ở loạt bài này đều hình thành kiểu “muối mặn gừng cay. Đây là lối sắp xếp theo trật tự âm trước dương sau mà người Việt thường làm (như vợ chồng chẵn lẻ vuông tròn đậm nhạt đen bạc…).  

Con số 3 và 9 (ba năm chín tháng) cũng thể hiện số nhiều không hàm nghĩa xá định rõ ràng về lượng cho nên dù đủ 9 tháng chỉ bằng ¼ của 3 năm nhưng trong kiểu cấu trúc này năm/tháng không còn là đơn vị thời gian cụ thể nữa (chú ý sự tương ứng của “chín tháng” và “chín nước” “sáu nước” nên cảm giác về sự vĩnh cửu hằng tồn đã xảy ra. Và tên của biểu tượng đang bàn đến đây cũng được xác lập “muối mặn - gừng cay”. 

Lại cần nói thêm là sự hằng tồn mùi vị của muối và gừng nếu tách ra đứng độc lập chúng chưa tạo được ý nghĩa gì cụ thể; việc cần có một cặp lục bát để nêu rõ ý nghĩa trong trường hợp này là tất nhiên. Nhưng trong không ít dạng bài ấy việc bổ nghĩa kia vẫn chưa ổn thỏa lắm. Cơ sở để dân gian sáng tạo ra những lời hò (hát) tự nhiên mà không hề có cảm giác bất ổn như vừa nêu chính là tiền giả định: không ai là không biết đến bài (a1) và nghĩa của muối mặn - gừng cay là sự thề ước thuỷ chung.  Theo đó thì bài (b1) thể hiện trọn vẹn ý nghĩa trên hai bài (b2 và b3) cũng vậy. bài (b4) thêm ý đã nguyện ước trăm năm bên nhau miễn là anh đừng có xao nhăng (“lên xuống cho dày”) thì thầy mẹ không gả em cũng có cách rồi. 

Bài (b5) đặt cuộc tình trong bối cảnh nghèo túng; bài (b6) đặt ra hai tình huống tốt nhất (“đặng câu danh vọng” – có bản ghi “làm nên quốc trạng”) và xấy nhất (“ăn mày”) mà con người có thể đạt đến hay vập phải vẫn giữ trọn lời nguyền.  Bài (b7) là lời trách cứ (trên cơ sở lời nguyền) với kẻ vong tình; và (b8) là một cuộc tình ở ngoài tầm kiểm soát của cha mẹ chưa tìm ra hướng giải quyết. 

Trên cơ sở tài liệu mà chúng tôi có được có thể nêu địa bàn lưu truyền phát triển của bài (a1) là cả nước; các bài theo thể song thất lục bát có từ Nghệ Tĩnh đến Quảng Nam – Đà Nẵng tập trung nhiều ở Bình Trị Thiên. Dải đất miền Trung này đã chuyển thể từ lục bát sang song thất lục bát với những sáng tạo gia cố có tính chất làm sáng rõ vấn đề khi đặt trong những tình huống hoàn cảnh cụ thể khác nhau của (a1) mà vẫn tuân thủ ý nghĩa đã có của biểu tượng.

Một hình ảnh được coi là biểu tượng trong văn chương khi nó luôn cố định về nghĩa trước mỗi lần xuất hiện mỗi tác giả sử dụng trong bối cảnh thời gian không gian nhất định. Ngoài ra nếu một biểu tượng gồm hai (ba) hình ảnh ghép lại - biểu tượng kép – thì nó phải ổn định về cấu trúc (yêu cầu tự thân của biểu đạt). Biểu tượng muối mặn - gừng cay qua phân tích trên thoả mãn hai điều kiện ấy. Đây là mộtk biểu tượng kép.  Tính chất kép của biểu tượng này còn được thể hiện khá rõ khi tách riêng hai hình ảnh muối và gừng; lúc này mỗi hình ảnh có nghĩa biểu vật và theo ngữ cảnh riêng không mang nét nghĩa của biểu tượng ví dụ: 

- Muối để ba năm không thiu
Bình vôi để hở thì mèo không ăn 

- Cực lòng mà phải theo anh
Khoai lang chấm muối ngon lành gì đâu 

- Gừng già gừng rụi gừng cay
Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhân 

Trong ca dao "muối mặn - gừng cay" còn một số biểu hiện kép khác (như mai – trúc) với ý nghĩa tượng trưng cho đôi bạn trẻ cho "tình duyên” cần được xác định tìm hiểu kỹ. Bởi việc nắm bắt các biểu tượng sẽ giúp ích rất nhiều cho vấn đề nhận dạng phân tích nghĩa xếp kiểu loại các bài ca dao một cách đúng đắn là một trong số những điều kiện cơ bản giúp viẹc nhìn nhận ca dao trong hệ thống từ hệ thống tránh được những suy diễn lạc lõng chủ quan.   


(xin kính gửi chị Chiều Xanh!) 

More...

Gửi chị Chiều Xanh

By


 http://hanhvan92.vnweblogs.com/post/2765/22685

Phải tự giới thiệu một chút: KN là dân "nghiên cứu văn hóa dân gian" dân chuyên đi "đãi cát tìm vàng" và "đi tìm mạch nguồn" đây. Không ngờ vnweblogs lại có cả các nhà giáo yêu nghề đưa ra những bàn thảo về phương pháp dạy và họcNhững gì chị tâm đắc trăn trở và viết những gì những đồng nghiệp của chị viết ở đây khiến KN không thể không nghĩ đến một ý tưởng cần đặt ra trong chương trình ngoại khóa VHDG trong các nhà trường (tất cả các hệ) là: cần có sự phối hợp giữa nhà quản lý giáo dục nhà nghiên cứu giáo dục nhà sư phạm với nhà quản lý nghiên cứu văn hóa (nhất là văn hóa dân gian).Vậy nên giờ ngoại khóa ở các trường (từ đối tượng là những giáo sinh cho đến các em học sinh của các hệ - thậm trí cả hệ mầm non) cần bổ trợ một chương trình tiếp cận dần dần đối với tư duy và phương pháp nghiên cứu cùng với vốn văn hóa dân gian để làm nên các tác phẩm văn học dân gian dùng trong nhà trường.

Mỗi tác phẩm văn học dân gian nếu đặt nó trong môi trường cuộc sống  sẽ hóa giải  sẽ tìm tòi gợi mở những tò mò bí ẩn hấp dẫn tạo nên những tư duy sáng tạo trong nhận thức và rồi là những sáng tác... sẽ hiệu quả cao lắm.

KN cũng như mọi người đã được học trong nhà trường phổ thông và đại học các tác phẩm VHDG ấy KN cũng đã yêu nhưng khi làm nghề này KN mới hiểu đến sâu xa và mọi góc cạnh của mỗi tác phẩm của công trình kiệt tác đó.

Cần lắm trong chương trình ngoại khóa của bạn là nội dung tham gia của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cao hơn nữa là các chương trình giảng dạy trong các hệ từ mầm non đến đại học cao học... đều cần đến sự phối hợp này.Vài thiển ý góp bàn với chị và đồng nghiệp của chị. Mong chị đọc và chắt ra vài chữ từ những suy nghĩ chợt đến của KN khi bắt gặp một bài viết từ một quá trình nghiên cứu công phu và từ một trái tim yêu nghề có trách nhiệm với nghề như chị!

More...