Đi một ngày đàng

By


Chiều đi chợ bất chợt mình nhìn thấy một chị phụ nữ chở sau xe một cô bé con cí mũ len kín tai kín đầu trên đỉnh mũ có một túm bông len vàng đỏ. Cô bé ngắc ngứ cái đầu túm bông cũng lúc lắc theo nhìn hay hay. Mình nheo mắt cười cô bé lúc đầu còn là lạ. Mình nheo lần nữa làm cô bé bỗng toét miệng cười... Tiếc là chỉ thoáng gặp không dừng lâu nên hai chú cháu cứ nhìn theo nhau đến khi cái túm bông vàng đỏ lẫn khuất giữa dòng người xe cộ... Ấn tượng quá! Mình vừa mua thức ăn vừa nghĩ... cuối cùng thì quyết định viết. Viết về cí túm bông bằng len vàng đỏ ấy...

Năm 2002 mình đi nghiên cứu dân tộc Si La ở bản Seo Hai xã Can Hồ huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu. Rất nhớ chuyến đi ấy vì chú trưởng đoàn mang theo một bộ chảo thu tín hiệu từ vệ tinh để tặng bà con. Ngày ấy cả bản chưa hề có lấy một cái màn hình chỉ ọ ọe vài tiếng đài bán dẫn. Vì dân Si La nghèo lại ở tận bên kia sông Đà trẻ em muốn xem phim phải đi bè đi thuyền sang bên này sông mới xem nhờ từ mấy lán giao thông hay nhà của các gia đình tạm trú sống bằng nghề buôn bán dọc tuyến đường Lai Châu - Mường Tè hun hút.

Đến bản là đã chiều muộn. Nhưng người lớn chưa đi nương về bản toàn người già và em nhỏ. Cả đoàn trút bỏ ba lô xuống là lao vào lắp đặt cái chảo màn hình. Loay hoay đến hơn một tiếng mới xong với những những thiết bị dây dợ... vì còn phải nối dây đến tận nguồn điện nước tự chế của nhà anh trưởng bản. Nói là điện nước nhưng là điện máy đứng máy ngồi mua của thằng Tàu về kè đá đắp đập rồi hạ thủy mỗi máy chỉ được vài bóng điện vàng thêm bóng nữa là cháy máy liền. Vào mùa khô thì chịu chết.

Đêm ấy được ăn một bữa thịt hoẵng no say vì hôm trước anh trưởng bản bẫy được. Cũng là bữa cơm thịnh soạn bản chiêu đãi khách mừng bản có được bộ màn hình có chảo ăng ten thu phát tín hiệu từ vệ tinh bà con xem được truyền hình trung ương sướng! Mình ăn xong trước nên lẻn ra sân để xem bà con hào hứng phấn khởi đến mức nào. Dường như cả bản chẳng ai ăn cơm tối. Họ bỏ ra sân xem ti vi hết. Trời tối mình đứng lẫn phía sau ban đầu thì họ chẳng để ý cứ mải xem sau thì 1 2 người nhìn thấy... "cán bộ" nên đứng xa ra ra chiều nhường nhịn để mình cùng xem cho rõ. Buồn cười và cũng đáng quí ở sự thân thiện yêu thương. Vài ba cô gái thì cứ đứng chỉ chỏ mấy em nhỏ thì khóc ré lên khi thấy người lạ. Các bà các mẹ thì mải xem cứ đứng dúm lại một góc. À phải rồi ở ba lô mình có mấy gói kẹo chạy về lấy ra chia hết cho bọn trẻ. Chúng rụt rè đứa thò tay ra nhận rồi lặng lẽ nhìn chú cán bộ như biết ơn nhưng chẳng nói gì dụi mặt vào lưng vào vai vào ngực mẹ. Có đứa thì tần ngần im im nhìn cái kẹo rồi nhìn bà nhìn mẹ mình lại phải đưa cho mẹ cho bà để rồi nhìn họ dúi vào tay chúng... Trẻ con là thế cứ được kẹo là thân thiện ngay.

Đêm tối duy nhất chỉ có cái màn hình là sáng nhìn cả bản đứng ngồi xem ti vi ngoài sân giữa bản mà thương mà tội. Khi họ mải mê xem nhất cũng là lúc mình có cơ hội để ngắm nhìn họ. Bất chợt một chú bé con bị rơi mũ. Mình cúi xuống nhặt lên đưa. Ồ hay chưa đỉnh mũ là một túm vải có 3 dây đầu mỗi dây là một cí túi nhỏ mình cầm thấy lạo xạo bên trong. Thấy lạ mình hỏi ngay: cái gì trong này thế? Bà mẹ không biết tiếng Kinh cười cười rồi một thanh niên đã nói cho mình nghe: đấy là hạt cây thảo quả. - Ồ sao lại thế nhỉ? Thế là câu chuyện kể của mấy cụ già mấy chị phụ nữ đã giúp mình hoàn thiện một câu chuyện trong chuyến điền dã:

Phụ nữ vùng cao sau khi sinh chỉ vừa hết tháng đầy cữ là phải đi nương rồi. Tất nhiên là đứa con nhỏ sẽ phải mang theo. Lúc địu trên lưng khi mỏi thì đặt con trong tá trong bem trong gùi. Trời nắng thì lót lá rừng nơi ngay bên gốc cây cạnh hẻm đá. Đặt con nằm đó người mẹ làm nương đến khi đứng bóng mới được nghỉ trưa mặt trời khuất sau núi mới dịu ôm con về nhà. Các cụ bảo từ xưa người Si La đã thế: mũ đội đầu của trẻ con Si La luôn phải đính kèm những hạt thảo quả bên trong để phòng khi con nhỏ bị đau bụng ho sốt thì cha mẹ lấy ngay những hạt thảo quả ấy rồi đốt nghiền pha với nước suối cho con uống và có thể đốt ngửi xua đi những ma tà ma rừng ma núi... Thế nên bất cứ trẻ em Si La nào cũng phải có mũ và đính kèm mấy túm hạt thảo quả đó.

Mình đã nhìn thấy hạt thảo quả nhiều rồi - trong những lần đi nghiên cứu dân tộc La Hủ tận mấy xã biên giới Pa Ủ Pa Vệ Sủ dân tộc Hà Nhì ở Ca Lăng Thu Lũm Mù Cả (huyện Mường Tè) dân tộc Mảng ở xã Nậm Ban (huyện Sìn Hồ) của tỉnh Lai Châu... Mùi thơm của thảo quả rất đặc biệt. Thảo quả có vị cay thơm tính ấm tác dụng trục hàn
 trừ đờm ấm bụng dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa chữa nôn mửa đau bụng chướng bụng đầy hơi chữa ho sốt tiêu chảy...

Dân điền dã chúng mình đi thì chớ về là rất nhiều điều phải giải mã. Nhớ lần đi nghiên cứu dân tộc Mảng nhận ra dân số dân tộc này ngày càng suy giảm mình có điện hỏi mấy người bạn chuyên ngành y rồi ngồi cà phê với nhau mới giải mã được điều đó và rồi vớ ngay được một câu đúng từ chuyên môn: suy dinh dưỡng trường diễn qua nhiều thế hệ. Còn lần này đi Si La về mình có đem câu chuyện túm hạt thảo quả trên cí mũ đội đầu của trẻ em người dân tộc thiểu số. Cậu bạn đã nói: Nguyên có biết đầu trẻ con dưới 3 tuổi có cái gì đáng quan tâm không? Mình cười tỏ vẻ năn nỉ chờ câu trả lời. Hắn nói: Thóp đấy! Cái thóp.

Cậu ta giải thích: thóp phản ánh tình trạng bên trong cơ thể của trẻ nên các thầy thuốc nhi khoa trước khi hỏi về triệu chứng bệnh của trẻ việc đầu tiên bao giờ cũng đưa tay sờ vào thóp trẻ để sơ bộ hiểu được tình hình phát triển và sức khỏe của trẻ. Vì thóp như là một "cửa sổ" qua đó để nhìn và xác định bệnh tật của trẻ. Thóp còn gọi là "cửa đình đầu" là nơi xương đỉnh đầu của trẻ chưa khép hết. Thóp phân ra 2 phần là "thóp trước" và "thóp sau". Thóp trước là khe hở hình thoi giữa xương đỉnh và xương trán thóp sau là khe hở hình tam giác giữa xương đỉnh và xương chẩm...

Chỉ cần nghe có thế mình aaaaaaaaaa một tiếng khoái vô cùng! Thật logic quả là một kinh nghiệm dân gian một bài thuốc y học cổ truyền vô cùng quí. Hạt thảo quả luôn ở đỉnh đầu trẻ. Nó không chỉ có tác dụng dùng ngay để chữa bệnh mà còn có tác dụng phòng bệnh cho trẻ. Mùi thơm của thảo quả sẽ thẩm thấu vào thóp trẻ có tác dụng như mình thoa cao vậy thôi! Đúng là có những điều thật đơn giản diễn ra và hình thành ngay trước mắt hàng ngày vậy mà nếu không để ý nó sẽ lẫn đi trong muôn ngàn sự việc đời thường.
Chỉ là một túm bông len xưa là để dùng phòng khi trẻ bạo bệnh nay là nét thẩm mỹ nhu cầu thẩm mỹ độc đáo đáng yêu. Đơn giản chỉ thế thôi nhưng để đi từ kinh nghiệm đời sống đến tiện lợi và biến thể thành nét thẩm mỹ khi khoa học y học đã có những bước tiến mới thì con người ta phải trải qua đến hàng trăm năm hàng nghìn năm. để khi nhìn lại bóc tách lớp bụi thời gian bóc tách những tầng văn hóa mới thấy hết giá trị của di sản văn hóa dân gian đáng quí biết nhường nào.

Ai đó nói:
 đồng bào vùng cao dân trí thấp. Xin hãy nghe câu chuyện này để cùng suy ngẫm lại nhé!

 

More...

Chín bậc tình yêu

By



CHÍN BẬC TÌNH YÊU
Nhạc và lời: An Thuyên

Chín bậc núi rừng chín bậc nghiêng nghiêng
Tuổi ấu thơ ta lớn lên ở đó
Cây muỗm xanh quả bồ quân chín đỏ
Đầu cầu thang ngồi đón mẹ về

Chúng mình lớn rồi...
Tính tảu so dây
Cùng hát then trao vòng tay bẽn lẽn
Mai cách xa anh ra đi bộ đội
Đầu cầu thang dấu chân anh vẫn còn

Chín tháng mẹ hiền
Từng bậc lo âu và thương nhớ
Chín tháng mẹ hiền
Nhà sàn đơn sơ mẹ sinh con
Những bước đi đầu tiên mẹ dìu lên từng bậc
Chín cung đàn chín cung đàn bên nôi mẹ ru

Chín khúc đợi chờ
Ngày hội vui anh về quê thăm
Bắc chiếc cầu vồng
Về nhà anh em làm dâu
Những bước đi đầu tiên
Từng bậc thang nhà người
Bước ngập ngừng...
Bước ngập ngừng... chín bậc tình yêu

Mời click vào đây để thưởng thức ca khúc CHÍN BẬC TÌNH YÊU do ca sĩ Trung Anh thể hiện
 

 
Ca khúc với "Chín bậc tình yêu" có lẽ ai cũng thuộc nhưng không phải ai cũng hiểu: Tại sao bậc cầu thang nhà sàn lại có 9 bậc? Vẫn biết nhà sàn là không gian văn hóa rất đặc biệt trong đó chiếc cầu thang giữ vai trò quan trọng không thể thiếu trong kiến trúc ngôi nhà sàn truyền thống nó gắn bó hữu cơ mật thiết với ngôi nhà của nhóm các dân tộc ở nhà sàn -  đó là nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (Thái Lào Lự Tày Nùng Cao Lan - Sán Chỉ Giáy La Ha và Pu Péo). Mỗi chi tiết đều gắn với ý thức tâm linh của cộng đồng này. Đơn cử: Khi mới lọt lòng người cha đan tấm phên cài lá xanh làm "ta leo" đóng ở chân cầu thang để mong đứa bé khỏe mạnh hay ăn chóng lớn tránh những "vía độc vía xấu"... Và tập đi tập lên xuống với chiếc cầu thang để yêu để hẹn để tâm tình nơi cầu thang nhà sàn... đến khi mười tám đôi mươi rời nhà mẹ đẻ theo "người ta" về nhà chồng chiếc cầu thang gắn với tình mẫu tử và hình bóng người mẹ như ca khúc trên. Cầu thang còn là một bộ phận trong nghi lễ nghi thức trong mỗi ngôi nhà mỗi gia đình... Người Thái có câu "chưa lên cầu thang chưa vào nhà" cầu thang của người Thái Tây Bắc như cái cổng vào mỗi ngôi nhà của người Kinh ở đồng bằng là thế!

KN xin kể một câu chuyện dân gian dân tộc Thái vùng Tây Bắc để trả lời câu hỏi: Tại sao bậc cầu thang nhà sàn phải là số lẻ và thường có 9 bậc?

Ngày xưa người Thái đã biết làm nhà sàn để tránh nước lụt thú dữ. Khi ấy chưa quy định làm bậc thang lẻ hay chẵn. Ở mường nọ có một vợ chồng làm nhà với số bậc chẵn. Một tối người chồng đi quăng chài bắt cá ở sông người vợ đang có mang ở nhà và bỗng thấy có một con dế bay vào nhà người vợ bắt nướng ăn.

Ngoài sông người chồng đang quăng chài thấy bóng người đi qua tưởng đó cũng là người đi kiếm cá bèn hỏi: Đi câu có bắt được cá không? Người kia trả lời: Pá khan me mẻ (bắt được một con cá chiên có chửa). Người chồng nghe thấy thế giật mình mới biết người đó là ma (người Thái ở hai bên bờ sông Đà thường bắt dế mèn làm mồi câu cá chiên nếu tối thấy dế mèn vào nhà thì họ cho rằng đó là ma đi câu. Và ma thì hay nói ngược nếu đi đêm gặp người nói ngược đó chính là ma. "Pá khan me mẻ" tức là "Pá khẻ me man").

Người chồng vội vã về nhà hỏi vợ: Ở nhà có ăn hay thấy cái gì không? Người vợ trả lời: Có thấy con dế bay vào em nướng ăn rồi! Người chồng nghĩ lại và nghi ngờ rằng con ma đó đã câu vợ mình rồi anh ta nghĩ mình phải làm gì để đánh lạc hướng con ma để con ma không nhận ra nhà mình. Anh ta đi ra cầu thang cầu thang có số bậc chẵn anh ta liền chặt bớt đi một bậc cho lẻ; vào ống đũa trong chạn anh ta vứt đi một chiếc cho lẻ rồi mới đi ngủ.

Đến đêm con ma tìm đến ngôi nhà của vợ chồng nọ để bắt vợ nó thấy cầu thang lẻ và nó tưởng nhầm nhà nên đã đi tìm nhà khác có bậc thang chẵn để bắt vợ nhà đó đi.

Hai vợ chồng nhà nọ đang ngủ bỗng nghe thấy tiếng kêu lớn người vợ của một gia đình khác trong bản đã chết con ma đã bắt nhầm. Câu chuyện được kể ra khắp bản gần bản xa nên bà con người Thái bảo nhau khi làm cầu thang phải làm bậc thang lẻ và chỉ làm bậc thang chẵn khi làm nhà mồ mà thôi.

Tại sao bậc cầu thang thường là 9?

Ngày xưa người Thái trắng thường làm 10 bậc cầu thang. Ở bản kia có hai mẹ con sống với nhau người chồng đã chết mẹ con nuôi nhau. Một hôm hai mẹ con cùng vào rừng kiếm củi bỗng có một con hổ bất ngờ xuất hiện và đòi ăn thịt cả 2 người. Người mẹ van xin hổ: Xin ông tha cho cháu ông hãy ăn thịt tôi!

Con hổ đồng ý người mẹ nghĩ: Mình chết ai nuôi con đây? Và phải nghĩ ra cách gì để giúp hai mẹ con thoát nạn. Bà liền nói với hổ: Trước khi nộp mạng cho tôi về nhà vái lạy tổ tiên nhà tôi có 10 bậc ông cứ vào bản thấy nhà 10 bậc thì lên.

Con hổ nghe thế liền bằng lòng. Hai mẹ con về đến bản báo với cả bản chặt bớt đi một bậc cầu thang nếu không tối nay hổ về sẽ bắt. Thế là cả bản nhà nào cũng chỉ còn 9 bậc cầu thang. Đến tối con hổ tìm về bản nó đi tìm nhà có 10 bậc nhưng tìm mãi không thấy nhà nào cũng 9 bậc. Trời sáng nó trở về rừng. Thế là hai mẹ con thoát nạn.

Vì thế sau này khi làm nhà người Thái bảo nhau làm cầu thang chỉ làm có 9 bậc để tránh mọi tai họa.

Câu chuyện là thế mỗi nét văn hóa đều gắn với tâm linh và tâm linh ra đời từ chính đời sống của con người. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đây thì quả là chưa đủ. Người điền dã xin bổ sung thêm một ý để mở rộng và cũng là để nhận diện: văn hóa là giao thoa là tác động qua lại và chịu ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cộng đồng các tộc người.

Theo quan niệm của người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng: Sinh-Lão-Mệnh-Tử là quy luật tiếp diễn của một đời người: Con người sinh ra lớn lên có bệnh và chết. Vậy nên dãy số 1 - 2 - 3 - 4 là biểu thị của quy luật này. Bởi thế người ta thường chọn con số 5 9 13 để dùng trong kiến trúc truyền thống.

1 - 2 - 3 - 4 - 5
Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh
1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9
Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh
1- 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10 - 11 - 12 - 13
Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh-Lão-Mệnh-Tử-Sinh

Như thế tuyệt nhiên con số 9 là con số hài lòng và thường dùng nhất trong tâm thức người Việt chúng ta./.

 

More...

Tại sao nước sông Đà không trong mà đục?

By




 Sông Đà - nhìn từ trên máy bay (ảnh sưu tầm trên net)

Nằm ven bờ - nơi con sông Đà chảy vào đất Việt có cư dân mang một cái tên thật lạ: dân tộc Côống. Đọc lên đã khó hiểu về văn hóa của họ lại càng khó hơn. Đến với họ cứ ngược dòng sông Đà là tới. Nhưng thôi ở bài viết này Khải Nguyên chỉ dừng lại ở một câu chuyện của người Côống họ lý giải cho chúng ta hay: TẠI SAO NƯỚC SÔNG ĐÀ BỐN MÙA KHÔNG TRONG MÀ ĐỤC?

Nặm Khao nghĩa là suối trắng cư dân miền núi thường đặt tên bản theo tên núi tên rừng tên sông tên suối tên cây quả con vật đặc trưng của khu đất ấy. Bản Nặm Khao nằm ngay cửa con suối Nặm Khao chảy ra sông Đà - gần nơi sông Đà chảy vào đất Việt. Bản này có một nơi thờ thần linh thổ địa được gọi là "thồ tí". Nơi thờ chỉ là một cái lán nhỏ đơn sơ bằng tre nằm dưới tán cây rừng phía trên quả đồi sau lưng bản. Thồ tí khá bệ rạc vì quanh năm nơi ấy chỉ được dâng cúng có một lần ấy là khi cúng bản do một người già họ Lý trong bản làm chủ. Còn lại chỉ khi nào gia đình trong bản có con cái hay người nhà đi xa thật xa như đi học đi bộ đội đi chừng 1 2 hoặc 3 năm mới về hoặc nhà có công to việc lớn như đám cưới làm nhà làm ma thì gia chủ mổ một con "lợn cắp nách" mang theo rượu lên cúng để cầu may. Thế nên người Nặm Khao vẫn tự hào trai tráng đi bộ đội cả 3 cuộc kháng chiến không một ai hy sinh; cuộc sống dân bản khá yên lành... Lạ nhỉ?

Người Nặm Khao cũng không có người chết đường chết chợ càng không thấy chết đuối do sông suối khi mưa to lũ lớn. Lạ không? Người Nặm Khao lý giải vì họ có thồ tí phù hộ cả đấy! Vật thờ ở thồ tí là một cái mầm đá gọi là mầm đá vì nó mang hình dáng dương vật nhưng khá nhọn ở đầu. Nó to bằng cổ tay dài chừng 20cm được đặt ngay trên mặt đất chính giữa gian thờ. Có bệ đá kê hình chiếc ngai và mầm đá kia được đặt ngay ngắn nơi chính diện. Mặt ngai là phiến đá dẹt phẳng dùng để trà rượu và đồ lễ lạt khi dâng cúng.


Thồ tí - bản Nặm Khao xã Nặm Khao huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu

Người Nặm Khao kể rằng: Xưa nơi vực xoáy Nặm Khao (nơi suối Nặm Khao gặp sông Đà) có một con thuồng luồng rất lớn hằng năm dân trong vùng phải cống nạp cho nó một người con gái còn trinh tiết xinh đẹp. Không thì thuyền bè qua đây luôn bị đắm chìm và không ai trên thuyền còn sống sót. Giang sơn thuồng luồng ở dưới đáy vực kia ở đó có mầm đá mang hình dương vật người đó cũng là vật mang hồn thuồng luồng để các cô trinh nữ kia về hầu hạ. Người già bảo chỉ khi nào bẻ được mầm đá thuồng luồng mới bị tiêu diệt còn không... nó vẫn hoành hành tác oai tác quái dân lành qua đây.

Thế rồi các dân tộc quanh vùng ngồi họp bàn tìm người tài giỏi để trị thuồng luồng đem lại bình yên cho dân chúng. Những chàng trai người Thái người Kháng người Si La giỏi sông nước là thế đều lần lượt xung phong giao đấu... nhưng ai nhảy xuống vực cũng đều mất tăm. Cuối cùng là chàng trai người Côống họ Lý. Con trai Côống dáng người nhỏ nhắn không lực lưỡng cao to nhưng lanh lẹ thì hiếm cư dân nào địch bằng; tài sông nước và tay không bắt cá lớn dưới sông thì trai tráng dân tộc nào cũng phải chịu thua.

Chàng trai người Côống đã chiến đấu với thuồng luồng đúng 3 ngày 3 đêm. Cuộc vật lộn tưởng khó cân sức nhưng cuối cùng thì chàng đã chiến thắng. Thuồng luồng chết máu chảy đầy sông... làm làn nước sông Đà đang xanh bỗng đỏ ngầu sùi bọt ùng ục dâng chảy cuồn cuộn. Sau đó chàng trai lặn một hơi xuống tận hang ổ của thuồng luồng phía đáy vực sâu bẻ được cái mầm đá kia để đưa lên bờ trong tiếng gieo hò vang dậy của rất đông cư dân các dân tộc trong vùng đang đứng 2 bên bờ sông.

Mầm đá giờ là vật thờ của thồ tí. Và từ đó đến nay nước sông Đà mãi mãi mang màu đục đục đến mức đỏ quạch như dồn tụ tất thảy những phù sa tưởng như không bao giờ bồi lắng.

Ai đã đến với sông Đà chắc hẳn thừa nhận: dòng sông nước chảy cuồn cuộn đục ngầu và rất nhiều sóng ngầm bởi lắm thác nhiều ghềnh mùa khô lòng sông trơ ra những gềnh đá sắc như những đốt gai xương sống của loài thuồng luồng hung dữ mùa mưa nước nhiều vực xoáy rất nguy hiểm.

Câu chuyện xưa vừa mang tính hiện thực vừa nhuốm màu huyền thoại như để khẳng định một tộc người giỏi giang nghề sông nước; nhưng lại cắt nghĩa một thực tế là màu đục trường tồn của một dòng sông. Mới hay truyền thuyết như giàn giáo nâng đỡ lịch sử vừa để lý giải hiện tượng tự nhiên và cũng để chính huyền thoại ấy truyền thuyết ấy sống mãi./.

More...

Một tập tục đẹp trong ngày 30 Tết

By

 
 
Tó cáy (chọi gà) - một trò chơi dân gian dân tộc  Lự

Dân tộc Lự là 1 trong 3 dân tộc duy chỉ có ở tỉnh Lai Châu (La Hủ Mảng và Lự). Người Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (Tày Thái Nùng Sán Chay Giáy Lào Bố Y và Lự) phân bố chủ yếu ở hai huyện Bình Lư và Sìn Hồ thuộc tỉnh Lai Châu với số dân khoảng 4.500 người. Trên thế giới có nhóm Lào Lự thuộc nhóm Lào Lùm ở tỉnh Luông Phra Băng (Lào) và nhóm Bạch Di ở vùng Xíp Xoỏng Păn Na (Trung Quốc).

Dân tộc Lự theo đạo Phật ý thức đoàn kết cộng đồng rất cao. Nếp sinh hoạt ứng xử đáng để nhiều dân tộc khác học tập ấy là: trong gia đình cha mẹ rất ít mắng chửi con cái anh chị em nội tộc đoàn kết ko đánh mắng nhau họ hàng trong bản ngoài mường cũng vậy họ sống vui vẻ hòa thuận. Trong khuôn khổ bài viết này người điền dã xin kể về một tập tục đẹp của người Lự vào ngày 30 tết...

Năm nào cũng vậy chiều 30 của tháng cuối năm nhà nhà làm lễ cúng xên hươn (cúng nhà). Nhưng sáng sớm gia đình nào cũng làm lễ kin tàn đó là lễ tạ ơn xin lỗi. Trước tiên mọi thành viên trong gia đình từ ông bà đến các con các cháu các chắt... đều phải đi tắm rửa sạch sẽ sau đó mới được tham dự lễ kin tàn. Họ quan niệm cơ thể con người cần phải sạch sẽ thì kin tàn mới linh ứng tâm hồn thể xác sạch sẽ thì lời tạ ơn mới thấu và lời xin lỗi mới tinh khiết và trung thực.

Tắm xong ai ai cũng mặc quần áo váy áo chỉnh tề đi lấy tất cả các dụng cụ gia đình như: bàn ghế mâm (đều làm bằng mây tre) rổ rá dao thớt xoong nồi bát đũa ấm chén... và các công cụ sản xuất như: cuốc sẻng liềm hái...đặt nhẹ nhàng ngay ngắn ở chính giữa nhà. Xong xuôi chủ nhà đốt nến (nến làm bằng sáp ong) rồi cả nhà ngồi quỳ gối xung quanh và chắp tay lên trước ngực để cùng lầm rầm khấn đại ý là: trong năm qua tôi có gì ko phải như trót nóng nảy hoặc sơ ý lỡ chân lỡ tay "đá thúng đụng nia" làm đổ nghiêng vỡ lật ngược hoặc quăng quật những thứ đồ dùng trong nhà và dụng cụ sản xuất thì cho tôi xin lỗi sang năm tôi hứa sẽ không như thế nữa! Khấn xong mọi người cùng cúi lạy những đồ vật ấy 3 lần...

Nghi thức này diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn mỗi người từ già đến trẻ nam hay nữ (trừ trẻ em chưa biết đi) đều làm như vậy nhưng trang nghiêm và thành tâm. Xong việc họ nhẹ nhàng đặt chúng vào đúng vị trí thường ngày.

Kin tàn chóng vánh trong khoảng 30 phút nhưng đây là một tập tục đẹp rất có ý nghĩa về giá trị đạo đức luân lý; là bài học về quan hệ ứng xử; mang tính truyền thống truyền dạy rất cao trong mỗi gia đình trong bản vùng đồng bào dân tộc Lự - một đại diện của các dân tộc thiểu số mà chúng ta vẫn cho họ là những người "có dân trí thấp".

Mỗi năm người Lự có một lần làm lễ kin tàn như là để tổng kết đánh giá và đặt ra phương hướng phấn đấu trong cách ứng xử trong năm mới. Ngay với đồ vật họ còn như vậy thì giữa người với người sẽ ứng xử ra sao? Tất cả mọi người già trẻ đều làm thế nhà nhà đều làm thế. Một bài đạo đức ở ngay giữa đời thường và có tác dụng truyền dạy qua rất nhiều thế hệ không cần sách vở cũng chẳng luật lệ gì nó như là một thứ quy ước bất thành văn trong đời sống của người Lự. Bởi thế người Lự có cách đi đứng nhẹ nhàng nói năng mềm mỏng không đánh mắng   không nói tục chửi bậy mất đoàn kết... tình làng nghĩa xóm và tình người trong gia đình nội tộc và bản mường rất đáng để nhiều dân tộc chiếm số đông khác học tập noi theo.

Người Lự có những câu răn dạy rất ý nghĩa:

1. Lụk bản phẳng cẳn nai
Lụk trai phẳng cẳn po lè me
(dịch nghĩa: Dân bản phải nghe lời trưởng bản
Con trai phải biết nghe lời cha mẹ)

2. Kin khảu ứ páy tô cặm na
Nòn pha ý páy tô cặm chụ
(dịch nghĩa: Ăn cơm đừng nói chuyện ruộng
Đi ngủ đừng nói chuyện tình xưa)

3. Nam lem ứ to lếch tụ
Lụk ón họ ứ to cun thẩu lưm
(dịch nghĩa: Gai nhọn không bằng sắt tù
Trẻ em biết không bằng người già quên)

Mỗi dân tộc đều có những nét đẹp văn hóa riêng. Nhưng nét đẹp trong lễ kin tàn của người Lự rất đáng để ghi nhận về một bài luân lý trong quan hệ ứng xử. 30 Tết ai đó nhắc chuyện xưa kể chuyện nay... người điền dã xin kể một tập tục đẹp của một cư dân nơi đầu nguồn sông Đà như để nhắc nhở mình và nhắc nhở mọi người: hãy ứng xử với nhau cho phải đạo để mỗi năm khi Tết đến Xuân về ta thanh thản nhẹ nhàng với chính lòng mình phải không?

More...

Không nên gọi là HOA TRẠNG NGUYÊN

By


Ai đó cứ nói người dân tộc thiểu số là những người có trình độ dân trí thấp. Tôi nói: Không! Thật dớ dẩn!

Bạn hãy nhìn ngắm thử loài cây mà người Kinh - cư dân chiếm số đông trong cộng đồng 54 dân tộc anh em gọi là HOA TRẠNG NGUYÊN.

Hãy nhìn kỹ đi nào hoa hay là lá? lá hay là hoa? Lá đúng không? Đích thị rồi. Những chiếc lá non màu đỏ ối rực rỡ trên nền màu xanh của lá bánh tẻ (lá đã già hơn). Tấm ảnh này chụp hắt từ đỉnh đèo Pha Đin đấy thật may mắn cho tôi vì tôi mới qua nơi ấy trở về Hà Nội ít ngày. Nơi đó trạng nguyên mọc ken dày dọc 2 bên đường số 6 con đường 55 năm trước cha ông ta đã đi chiến dịch. Những vạt đồi đỏ rực trên nền núi thẳm biếc xanh; trời cũng xanh và mây thì trắng. Giữa đông sương mù có bao phủ trạng nguyên dẫn lối cho những chiếc xe cứ lầm lũi chầm chậm đi đúng đường đúng hướng... dù tầm nhìn xa  không ít nơichỉ có vài mét. Loài cây ấy người Thái cư dân của nhóm ngôn ngữ Tày Thái gọi là co toòng.

Tiếng Thái co là cây bua là hoa những cây có hoa bao giờ cũng bắt đầu bằng từ "bua". Ví dụ: bua ngam là hoa sen bua soòng là hoa dã quỳ hay còn là hoa cúc dại - loài hoa bạt ngàn Tây Bắc. Co là cây co toòng là cây trạng nguyên; co mị là cây muỗm; co chạy là loài cây mọc lúp xúp kiên cường ven sông ven suối nước lũ cuốn mạnh đến mấy cũng chẳng thể bật rễ vậy mà người Kinh đọc chệch là cò chạy nơi ấy có con đèo quanh co nên người ta ghi biển là ĐÈO CÒ CHẠY khiến ai đi qua cũng tìm cò xem có con cò đàn cò nào chạy không?!?

Nếu dõi theo đời sống của loài cây trạng nguyên bạn có thể nhận ra một điều rất lạ. Lá non bao giờ cũng có màu đỏ và lớp lá thứ 2 mọc lên lại đỏ đến lớp lá thứ 3 xuất hiện lớp lá dưới cùng sẽ chuyển màu xanh. Cứ thế trạng nguyên luôn có 2 lớp lá đỏ nên không ít người lầm tưởng đó là một đài hoa kép khoe màu rực rỡ.

Nếu tìm hiểu kỹ ngôn ngữ của đồng bào dân tộc thiểu số bạn sẽ thấy rất nhiều thú vị. Có lần tôi đã bật cười khi một cụ già bản nói: "Người Kinh chúng mày (thân mật gọi thế) gọi tên khác chúng tao quá! cũng là khảu (chỉ gạo thóc lúa...) thì gọi bằng nhiều cách thế! lúc còn hạt thì gọi thóc; lúc thành cây non thì gọi mạ; lúc lớn lên ra hạt thì là lúa; lúc gặt về lại là thóc; thóc xay ra lại gọi là gạo; gạo nấu chín thì là cơm; cơm nấu nát thì gọi là cháo! Người Thái chúng tao cứ gọi khảu thôi phà khá ơi! (trời ơi!)".


Thế đấy! Bạn tôi và chúng ta hãy cùng ngẫm xem: cộng đồng nào có dân trí thấp hơn? À lại nói đến cụm từ "dân trí thấp". Một cụ già người dân tộc Mông đã vỗ vai tôi mà nói: "Người Kinh đừng nói chúng tao có dân trí thấp "thấp" mà cầm súng theo Đảng mấy đời à?". Tôi liền nói: "Vậy từ nay con sẽ thay bằng: dân trí chưa được mở mang cụ nhé! ".Cụ cười thật hiền đôi mắt nheo nheo và ánh nhìn như có lửa. Bất giác tôi nghĩ: Cứ nói bao giờ miền núi tiến kịp miền xuôi; nhưng tìm hiểu cặn kẽ những ngôn từ và đi đến tận cùng của mạch nguồn văn hóa dân gian ấy thì còn lâu chúng ta mới tiến kịp họ.

Lại nhớ UNESSCO đã khuyến cáo: đừng nên so sánh văn hóa dân tộc này đặc sắc hơn dân tộc khác; cũng đừng dùng khái niệm "đặc trưng" khi đưa ra một nét văn hóa mà bạn cho là đẹp. Mà hãy luôn biết văn hóa là hồn cốt của mỗi tộc người đánh mất văn hóa là mất đi cái hồn của dân tộc; văn hóa mang tính "đại diện" sâu sắc thế nên đừng đem văn hóa ra để mà so sánh!

Những ý nghĩ cứ rong ruổi theo tôi trên suốt chặng đường đi - về. Cuối đông co toòng vẫn đỏ rực mặc cho sương mù hay giá lạnh vẫn làm những cột mốc bên đường để chỉ lối cho xe của chúng tôi đi...

More...

Cho mượn cái bát !

By

 



Một ông người Dao đi về chợ huyện gần trưa đói bụng mà không gặp nhà dân nào để dừng chân nghỉ ăn cơm. Quệt mồ hôi đợi cơn gió mát lành từ khe núi thốc lên bỗng ông nhìn thấy một ông người Mông đang cày ruộng. Cái ruộng bậc thang chiều ngang bé tí mà dài từ đầu hẻm quả đồi này sang tận vạt bên kia làm con trâu gò cả bốn chân để bước lầm lũi giữa trưa. 

- Này mày có cái bát ăn cơm (lu pỉ nào máu) không? (tiếng Mông bát là lu pỉ ăno cơm là nào máo)người Dao hỏi:

- Cái bát nó ở nhà đi hết cái quăng dao là tới gặp vợ tao mà lấy!

Ngôi nhà người Mông nhỏ như nốt ruồi của núi bám chặt lấy cái đồi dưới cái nắng chang chang. Ngần ngừ trước cửa ông người Dao gọi:

- Có ai ở nhà không?

- Một người đàn bà Mông từ trong buồng bước ra má ửng đỏ vì nắng váy súng sính những nếp gấp như xống núi. Mắt như ý hỏi:

- Mày ở đâu về? (tiếng Mông là nhao hó từ?) mày vào chơi chồng tao đi làm nương khi nào cái bóng của tao nó dài một bước chân thì nó sẽ về! (người Mông ước giờ giản đơn như thế đấy đứng bóng là 12h trưa bóng xiên chút chừng hơn 1h chiều mới đi làm nương về).

- Tao ở bản Tả Phìn đi chợ muốn mượn lu pẩu (lu pỉ là bát nhưng ông Dao phát âm không chuẩn lại nói là lu pẩu lu có nghĩa là cáipẩu lại là… cái ấy!) gặp chồng mày rồi nó bảo về nhà bảo mày cho.

Một thoáng ngần ngừ vợ ông người Mông thật thà nói: Ừ vào đây tao cho…

Ông người Dao theo vào… buồng…. và…. (ứ... hự!!!).

Mặt trời chếch bóng ông người Mông về đến nhà vợ sắp mâm cơm cho chồng ăn. Nói là cơm nhưng là mèn mén với nước su su luộc (mèn mén là bột ngô xay nhỏ mịn và đồ chín ăn với nước. Vì khó nuốt cho nên người Mông khi ăn cơm hay mèn mén đều hay ăn với nước cho dễ trôi vào cổ!). Vừa ăn ông người Mông vừa hỏi:

- Lúc tao chưa về thằng người Dao có vào nhà không?

- Có…

- Thế nó ăn ở đây à?

- … không…

- Nó hỏi mượn tao cái bát để nó ăn cơm tao bảo nó về hỏi mày để lấy…

Vợ ông người Mông ngơ ngác… rồi sụt sùi kể lại…….. mọi chuyện!!!

Ông người Mông tức quá đập vỡ luôn cái bát đang ăn rồi giật ngay cây súng kíp bên vách lao bổ ra khỏi nhà đuổi theo ông người Dao.

Một lúc rất lâu ông tức tối hậm hực quay lại… thằng ấy nó đi xa lắm rồi! Vừa bước vào nhà thấy vợ đang đứng chân thấp chân cao trên cái cầu thang để lên sàn ngô. Ông nhìn thấy lu pẩu của vợ… vẫn còn chỉ thấy nó hơi méo xệch đi thôi! (vì bà ấy đứng trên thang nên bị lệch chân và... nó... cũng lệch theo!!!).

Ông nghĩ bụng:Ờ... tưởng thằng người Dao nó lấy mất cái lu pẩu chứ hóa ra là vẫn còn "méo mó có hơn không"!!!

________________________________________________________________________________
Câu chuyện vui và tấm hình "váy mèo" đầy ẩn ý này KN xin tặng riêng chị Chung Ny! Hàng độc đấy chị nhé!  

Thấy váy mà chẳng thấy người
Hình như... lu pẩu đi đâu mất rồi!

More...

Tôi đã từng có một cậu con trai

By

 





 

Như bao lần về với bản lần đầu tiên về Nậm Ô xã Nậm Ban (một xã nằm giáp biên giới Việt - Trung) tôi vẫn là thằng bộc lộ tâm trạng háo hức nhiều nhất luôn xăng xái đi trước thèm được cái cảm giác là người nhìn thấy bản đầu tiên được nghe thấy tiếng người gọi nhau í ới tiếng lợn kêu tiếng trẻ con đùa giỡn... được nhìn dải khói bếp bay lên cao từ nóc của những ngôi nhà sàn.

Lần này là người đầu tiên nhìn thấy cái cổng. Ngạc nhiên chưa nó là 2 cái cột gỗ to bằng bắp đùi cao hơn đầu người được chôn rất chắc ở 2 mép của con đường mòn về bản. Thân 2 cây cột bị đục thành 5 7 cái lỗ song song đều đặn cả 2 bên. Có 5 7 đoạn gỗ tròn to bằng cổ chân luồn ngang từ lỗ cột này sang lỗ cột kia. Khi đi tới dùng tay kéo rút những đoạn gỗ ngang ấy sang 1 bên vừa đủ cho chân bước qua... đi qua lại dùng tay xuôn vào chiếc cổng bản bỗng dưng trở thành một cái hàng rào ngăn không cho lợn trâu bò đi ra xa bản được.

Chân cứ ríu lại vì sắp đến bản sau gần 10 tiếng đi bộ mệt nhoài nữa nhưng tôi vẫn dừng lại để chụp toàn cảnh và đặc tả cái cổng bản đặc biệt này.

Bản kia rồi ở thành một chòm dọc theo con suối Nậm Ban những mái nhà dọc theo triền núi dọc theo con suối tất cả các cửa ngôi nhà cùng quay về một hướng: hướng mặt trời mọc.

Như mọi lần về đến bản cả đoàn hỏi thăm và tiến thẳng tới nhà trưởng bản sau cái bắt tay vỗ vai hỉ hả quẳng ba lô trên chiếc sạp kê ở gian khách mọi người tản ra nghỉ ngơi cho lại sức. Tôi tháo chiếc khăn bao lần đẫm mồ hôi rồi lại khô lại đẫm ướt mồ hôi đi ra suối...

Lúc ấy là khoảng 4h chiều lần đầu đến bản nên tôi quyết định thay đổi ý định: đi thăm bản rồi đi tắm gội luôn một thể. Tôi hăng hái nhẩy chân sáo xộc thẳng lên một ngôi nhà bé xíu nhất bản. Chẳng là giờ ấy đa số bà con đi nương chưa về chỉ ngôi nhà này là có tiếng ho đằng hắng bên trong.

Vừa bước lên hết chiếc cầu thang tôi chợt sững lại linh tính mách bảo: hình như có điều gì... Tôi ngoái lại phía cầu thang thì ra nơi ấy có một túm lá cây rừng đã heo héo - tín hiệu báo cho khách biết "nhà có người ốm hoặc ở cữ" mà tôi không để ý. Một thoáng ngần ngừ... nhưng không kịp nữa một cậu bé ra kéo tay tôi mời vào nhà.

Tôi đưa mắt nhìn ánh lửa hắt ra từ cái bếp duy nhất trong nhà soi rõ một thiếu phụ nhỏ nhắn đang bế ãm một đứa bé tí xíu đỏ hỏn ngồi kế bên cạnh là 2 người: một nam một nữ chạc tuổi trung niên. Sau lời chào của tôi cậu bé kéo ghế mời tôi ngồi...

Hỏi ra mới hay hai người lớn tuổi kia là ông bà ngoại của đứa bé còn cái cậu ra kéo tôi vào nhà là cha đứa bé mới 16 tuổi đang ở rể vợ nó - mới 14 tuổi - người đang ôm cái sinh linh nhỏ bé kia.

Cũng phải nói thêm rằng Mảng là tộc người rất nhút nhát họ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơme hiện là một trong những nhóm cư dân có số dân rất ít ở các tỉnh phía Bắc duy nhất chỉ cư trú ở địa bàn tỉnh Lai Châu. Sống định cư không ra khỏi cái tam giác làm nên vùng đất Nậm Ban của huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu: một cạnh là đoạn sông Đà một cạnh là đoạn sông Nậm Na cạnh còn lại là dòng Nậm Ô ngay sát biên giới Việt - Trung. Nhóm cư dân này hôn nhân đóng kín trong dòng tộc. Nên rất nhiều năm qua dân số ngày một thuyên giảm nhiều tập tục lạc hậu việc tảo hôn là phổ biến. Bởi thế nhìn cặp vợ chồng tuổi 14 15 đã có con là chuyện bình thường.

Trở lại với câu chuyện mà tôi muốn viết ra đây để các bạn biết:

Một tập tục lạ ở dân tộc này là: nếu bạn là khách bất ngờ đến một gia đình có phụ nữ mới sinh con trong vòng 1 tháng tuổi thì bạn phải là người mẹ nuôi hoặc cha nuôi của đứa trẻ đó sau một nghi thức rất đặc biệt và lạ kỳ.

Và tôi nghiễm nhiên trở thành bố nuôi (oong hẳng) của thằng con trai nuôi (vằn hẳng). Tôi vẫn nhớ cha đứa bé - cái người đàn ông mà tôi gọi là cậu bé ấy đi bắt một con gà và mổ nói là gà nhưng chỉ là một con gà với đủ nghĩa là một con hoàn chỉnh nó bằng nắm tay làm lông rửa sạch đi rồi con gà cũng chỉ to bằng quả trứng vịt. Rồi đem luộc rồi chặt ra để nguyên 2 cái chân 2 cái đùi và cái đầu gà vào một cái đĩa số thịt còn lại đặt miếng bé xíu như đốt ngón tay tất cả cho vào một cái đĩa cũng bé tí xíu.

Cha đứa bé bày mâm 2 đĩa gà một bát muối ớt và 4 cái chén. Rượu được giót ra: một chén cho tôi một chén cho ông ngoại 2 chén cho 2 bố mẹ đứa bé. Tôi vốn dĩ không uống được rượu nhưng biết đây là nghi thức bắt buộc nên cố gắng để uống. Đầu tiên cha mẹ đứa bé mời tôi 2 lượt rượu mỗi lần 1 chén sau đó cả nhà cùng uống một chén với nhau.

Đi nắng về... lại đói mềm uống liền 3 chén rượu tôi đã đỏ bừng mặt. Chưa kịp trấn tĩnh đã thấy mẹ đứa trẻ chuyển con cho bà ngoại ôm 2 vợ chồng trẻ quỳ xuống đất cúi rạp người trước mặt tôi để lạy tôi 3 lạy. Sau đó người chồng kính cẩn nâng 2 tay đưa cái đĩa có đầu gà đùi gà và chân gà cho tôi mời tôi phải ăn hết. Tôi ái ngại... nhưng ông ngoại đứa bé bảo: "phải ăn hết đấy không được bỏ".

Trời đất thế là tôi ăn. Tôi phải ăn trong khi bụng thì đói meo. Tôi phải ăn sau khi uống ba chén rượu làm tôi bủn rủn chân tay. Tôi phải ăn khi xung quanh tôi toàn người lạ. Tôi phải ăn khi lần đầu tiên tôi được người ta lạy sống tôi ba lạy. Tôi phải ăn ngay giữa một nghi thức lạ kỳ mà tôi là nhân vật quan trọng tự dưng được làm bố được có con... Thằng con trai đất Hà Thành là tôi khi ấy vừa mới biết yêu mà đã có con lại là một chú bé trai ở ngay giữa núi rừng heo hút tận biên giới Việt - Trung này nữa chứ!!!

Rồi tôi cũng ăn xong 2 cái chân 2 cái đùi và cái đầu con gà trong ánh nhìn kính mến của cả nhà. Vừa lúc ấy anh trưởng bản đi tìm tôi cũng bước lên sàn. Vào nhà thấy cảnh tượng vậy anh hiểu ra ngay cơ sự và mỉm cười. Anh dặn tôi: "tìm một cái tên thật hay để đặt cho con trai nuôi khi làm lễ buộc chỉ cổ tay nhớ nói mấy câu để chúc phúc" rồi anh ghé tai tôi nói nhỏ: "sau đó có tiền thì mừng tuổi cho nó".

Đúng thế bố mẹ đứa trẻ lại một lần nữa quỳ rạp dưới chân tôi để xin tôi một cái tên một ý nghĩ chợt thoáng qua trong đầu thằng con tôi sẽ phải thật khoẻ tôi quay sang anh trưởng bản hỏi: "tiếng Mảng khỏe - tốt là gì?" anh nói "là dứa" ừ vậy thì "vằn hẳng" sẽ có tên là "Dứa" - Lùng A Dứa. Ngay lập tức cha mẹ đứa bé lạy tôi 3 lạy và khi họ lạy xong ngước nhìn lên ánh mắt lộ vẻ vui mừng lắm.

Người cha đi lấy 3 sợi chỉ đỏ xoắn lại với nhau rồi lấy 3 sợi chỉ đen xoắn lại với nhau cuối cùng cầm 2 túm sợi đỏ - đen ấy xoắn lại đưa cho tôi chỉ vào cổ tay đứa bé. Tôi hiểu mình sẽ phải làm nghi thức buộc chỉ cổ tay cho đứa con nuôi của mình.

Tôi mỉm cười và bắt đầu buộc chỉ vào tay đứa bé trong lòng thấy vui vui tôi nói: "con trai lớn nhanh khỏe mạnh để về Hà Nội với bố nuôi nhé!".

Nói rồi tôi rút ví lấy một đồng tiền chẵn đặt vào tay đứa bé. Thấy thế cha mẹ đứa bé lại cúi lạy tôi. Trời đất tôi chỉ còn biết ngồi để nhận những cái lạy tạ ơn từ chính những người dân mà họ đã đang và sẽ là những tộc người luôn ôm chứa những tập tục những phong tục để cả đời tôi theo đuổi tìm hiểu vẫn chưa hết.

Một năm sau tôi có dịp trở lại với chuyến điền dã lần thứ 2 về tộc người này hăm hở mang theo chút quà do mẹ tôi chuẩn bị sẵn từ Hà Nội. Nhưng... Lùng A Dứa của tôi không còn nữa con nuôi tôi đã mất. Tôi lặng người đi khi nghe tin dữ này ngay từ lúc xuống xe ở đầu cầu Nậm Ban. Bà con đi chợ gặp... tôi hỏi thăm ngay và... "cán bộ à vẳn hẳng bỏ đi rồi mẹ nó không có sữa cho nó ăn...".

Thế đấy tôi không quên được là mình đã có một thằng con trai nuôi. Nỗi đau buồn cứ ám ảnh tôi khi nghĩ về một tộc người ở nơi tận cùng cực Tây của Tổ quốc suy dinh dưỡng trường diễn qua nhiều thế hệ hôn nhân đóng kín trong dòng tộc nạn tảo hôn ở tuổi vị thành niên và một tập tục nữa: người phụ nữ khi sinh con không được phép sinh ở trên nhà phải cùng chồng sinh con ở dưới gầm sàn hoặc sinh ở trong một cái lán cách xa nhà do người chồng dựng lên một cách tạm bợ. Tới khi sạch sẽ mới được đưa lên nhà. Nếu chẳng may đứa con trong khoảng 1 tuổi mà chết người thiếu phụ ấy phải vào rừng ở 7 ngày 7 đêm người nhà mang cơm ra chỗ hẹn để nhận phần ăn. Đủ thời gian mới được trở về nhà.

Cách đây 3 năm tôi có dịp đi nghiên cứu dân tộc Lự cũng ở huyện đó và được tin: Bản Nậm Ô - quê của con trai tôi đã có đường ô tô đến tận nơi nhà nước kéo đường điện về tận trung tâm xã cuộc sống khá lên rồi!

Biết là mừng cho bà con mình nơi ấy... Nhưng ...

 


 

More...

Cái bắt tay gãi gãi

By

 




Nhớ lần ấy... năm đầu vào công tác lần đầu được làm "người điền dã". Đi theo mấy anh mấy chú đồng nghiệp háo hức lạ kỳ. Dù gì thì cũng thấy "oai... oai". Với đám bạn mình thành "anh công chức"; với những chú những bác... xưa mình gọi "thầy" nay có thể gọi "anh" hay "đồng chí"... Nhưng khoái nhất là khi đến với dân bà con gọi mình là "cán bộ Hà Nội". Sướng tai (!).

Luyên thuyên rồi. Giờ KN mới kể chuyện chuyến đi ấy. Là thế này:

Xuống xe ở thị trấn huyện đã quá trưa bấm giờ... anh trưởng đoàn bảo: ta đi bộ rảo chân một tí ngồi xe cả ngày cũng "đã" rồi. Cố gắng để chập tối là có thể đến được bản... "đêm nằm bằng năm ở". Đến với dân một đêm học được nhiều lắm...

Đang háo hức tôi hăng hái khoác ba lô lên vai buộc lại dây giày và xăm xăm bước đi trước miệng vẫn nghêu ngao bài hát "Tôi đến với rừng... đâu chỉ vì rừng mờ trong sương... tôi đến với rừng... bởi rừng xanh... yêu thương".

Kinh nghiệm đi đường anh trưởng đoàn truyền cho tôi: nhớ tìm chỗ đặt bàn chân thật chắc bằng đừng giẫm vào chỗ gồ ghề chân phải lên gân đêm về đau lắm... khi nghỉ đừng ngồi đứng và nghỉ từng chân một... ngồi xuống khi đứng lên đi cơ chùng lại và giãn ra càng đau. Và nhớ đừng uống nước nhiều nhấp nhấp ít một để cổ không khô thôi uống nhiều ra nhiều mồ hôi nhanh mệt bã người ra đấy!

Tôi nghe mà không cần ghi lại bởi thực hành trên cả chặng đường "dân sinh" tới hơn 30 cây số lội suối trèo đèo mệt lử... nhưng vui và nhớ đến khó quên.

Nhá nhem chúng tôi đến bản. Bản ở góc khuất nên anh trưởng đoàn chọc anh em trong đoàn là "còn lâu mới tới". Người thấm mệt vậy mà vừa qua khúc cua nhìn thấy mấy nóc nhà dân ai cũng reo lên: đến rồi!!! và chân tự nhiên rảo bước rất nhanh quên cả mệt cười phớ lớ... (!)

Thấy người quen (chẳng là anh trưởng đoàn đã đến đó 2 lần rồi!) dẫn thêm đoàn cán bộ lạ hoắc toàn thanh niên "đẹp giai" như tôi mấy đứa trẻ vừa mừng vừa ngại nhưng tay vẫn ríu rít đòi cầm đồ đạc cho chúng tôi. Đứa chạy trước đứa chạy theo sau kéo chúng tôi đến nhà trưởng bản.

Anh trưởng bản chừng ngoài 40 mắt sáng vạm vỡ mỉm cười bắt tay từng người. Anh lắc cánh tay thư sinh của tôi và nói oang oang: "người Hà Nội" hả? lần đầu đi bộ đúng không? Rồi chẳng cần nhìn tôi anh xăng xái đi đặt ấm nước pha chè nháy vợ con nấu cơm mổ gà...

Mà thôi chuyện ở bản nhiều lắm... "người điền dã" kể dần dần nhá! giờ đi vào đề tài chính đây:

Bữa cơm hôm ấy uống rượu với "thịt gà dân" ngon cực chắc thịt ngọt đậm nhai chỉ muốn nuốt ngay nuốt rồi... thấy tiếc... vì dư âm vị thịt ngon ngọt đậm đà ấy cứ quyến luyến ở nơi đầu lưỡi (!).

Có mấy thiếu nữ miền sơn cước xà vào mâm cơm để tiếp rượu. Anh trưởng bản có cô con gái đang học trường dân tộc nội trú huyện về nghỉ hè giúp cha mẹ nhìn thật xinh má đỏ hây hây mắt long lanh thế! dưới ánh đèn dầu thấy đẹp lạ lùng! Mái tóc dài đen mượt gội bằng nước gạo ngâm 7 ngày mà cứ gọi là... mướt mắt!

Uống rượu cứ phải "đi hai chân" với từng người một (đi hai chân <= đề cập sau nhá). Tôi có uống được rượu đâu mặt đỏ bừng chút thôi là đỏ từ... tóc đến chân tay. Nên anh trưởng đoàn ghé tai bảo: "Chú muốn họ không ép khi bắt tay họ cứ lấy ngón trở gãi gãi vào giữa lòng bàn tay người ta ấy họ sẽ không ép nữa đâu" (ở vùng cao người dân tộc thiểu số khi uống rượu xong họ hay bắt tay nhau mà).

Tôi khấp khởi làm theo. Anh trưởng bản được tôi gãi tay ngỡ ngàng rồi cười cười... "tha cho chú!". Tôi càng khoái vì "nó" hiệu nghiệm. Quay sang cô con gái chủ nhà tôi hăng hái nốc cạn chén đầu tiên em cười tươi hẳn lên. Tôi chủ động bắt tay hăng hái lắm... rồi... thò ngón tay vào chính giữa lòng bàn tay mềm mại... gãi gãi... Ai dè... em đỏ bừng mặt... nhìn tôi rồi quay đi rất nhanh. Tôi nghĩ là em sẽ tha cho tôi chén thứ 2 (cái lệ uống hai chân mà). Và... đúng là em tha cho tôi thật. Tôi vui như tết. Thế là từ nay khỏi lo chuyện uống rượu ở bản (!).

Ăn xong khách - chủ ra uống nước em gái vừa dọn dẹp vừa đưa mắt nhìn tôi tôi cũng cười lại rất... sành điệu (!). Anh trưởng đoàn thì nhìn tôi... cười bí hiểm (!?).

Khuya cả đoàn sửa soạn đi ngủ... cô con gái chủ nhà kéo tay tôi ra sàn "chan" (sàn dùng cho sinh hoạt gia đình: để rau nước...). Ở đó có sẵn một chậu nước ấm nóng... mùi bã chè mùi hương chanh thơm thơm nồng ấm và bảo tôi rửa chân tay. Cảm động vô cùng tôi cười cười và làm theo em. Khi đã xong em nói: "pay..." tôi hỏi "pay là gì" em bảo "là đi chơi" tôi bảo "cán bộ mới đến bản còn mệt lắm đi ngủ đã mai nhé!".

Đêm tối nên tôi không nhìn thấy em chỉ thấy em hình như chợt cúi xuống... lách tấm liếp cửa... lặng lẽ vào buồng... để tôi sững lại và thấy hững hờ đôi chút. Nhưng cũng chỉ thoáng qua thôi vì tiếng anh trưởng đoàn chợt gọi "KN vào ngủ đi mai còn nhiều việc lắm!".

Tôi vào gian khách nói là gian khách nhưng nó là cái ô của gian nhà sàn dành cho khách ngủ. Không liếp ngăn một cái giường to mấy anh em nằm chung. Ghé lưng cạnh anh trưởng đoàn... chờ tôi yên vị anh bảo: "E... hèm... chú mày sao rồi?" tôi trả lời "Sao là sao cơ ạ?" nghe thấy thế cả đoàn cười phá lên rất to. Anh thì thào bên tai tôi: "Chú có biết chú bị anh lừa không? gãi gãi tay đàn ông thì họ tha... gãi gãi tay chị em... họ tưởng chú hò hẹn để đi chơi với người ta đấy!". Rồi anh cứ để tôi trong ngơ ngác cấu tôi một cái thật đau (!).

Trời ạ! Thế đấy! Đúng là... "một đêm nằm bằng năm ở" !?!

More...

Những đồng tiền nhân nghĩa

By


Bên cạnh giường bệnh mẹ tôi là một chú bé cũng bị tai biến mạch máu não. 

Mẹ tôi 72 mắt nhắm nghiền chân tay bất động ống thở và ống xông dây dợ loằng ngoằng máy đo cơ thể cứ “tanh tách” đèn xanh đôi khi đèn vàng.

Chú bé 9 tháng. Hai tay hai chân giang rộng ra hai bên bàn tay nắm chặt hay là co quắp? Tôi đoán là cả hai nên đèn cứ thỉnh thoảng lại báo đỏ dồn dập… Cũng ống thở ống xông; nhưng cái ống xông nhỏ tí xíu cái ống thở cũng nhỏ tí xíu được đặt ở miệng chứ không "mở ở khí quản" như mẹ tôi; hai mắt mở to đen láy... đẹp và trong sáng vô ngần. Đôi mắt chú bé không chớp. Không hề chớp.

Tôi nhìn. Nhìn thật lâu. Thương cảm.

Một già một trẻ nằm đấy. Tôi - thằng đàn ông “chân cứng” làm đá phải mềm biết bao lần… "sức dài vai rộng" là thế... vậy mà lặng im… bất lực trước cả hai người.

Chiều qua mẹ chú bé đi mua sữa bị kẻ gian lấy hết tiền đến là khổ... “chó cắn váy rách” đẻ và nuôi con một mình biết nhờ cậy vào ai?

Tôi cũng chẳng có gì đang lo cho mẹ hơn một tháng nay rồi. Nhưng lại nghĩ đầu tháng... sắp tới ngày lĩnh lương... thằng bé hết hộp sữa kia tiền - mẹ nó sẽ lấy ở đâu? “Cho” thì sợ mọi người xung quanh nghĩ mình "sao ấy"; “không cho” thì không đành lòng. Tôi móc ví đếm lại… rồi ghé tai ba hỏi ba ba gật đầu nhìn tôi mỉm cười.

Tôi vẫy người mẹ ra cửa rồi ra phía chân cầu thang tôi đưa chị hai tờ bạc loại "một trăm ngàn đồng" đủ để mua hai hộp sữa. Tôi nói nhỏ đủ cho chị nghe thấy: "chị cầm lấy thêm tiền lo cho cháu…".

Chị nhìn tôi…. bất chợt nghẹn ngào bờ vai rung lên...  rồi chị nức nở.

Bỗng tiếng ai đó gọi thất thanh... "đâu rồi? mẹ thằng bé đâu rồi?" chị hoảng hốt cùng tôi chạy lao vào... Cũng may chỉ là cơn co giật nhẹ. Thằng bé lại im im một lúc hai tay vẫn nắm chặt giang rộng ra hai bên... Hai tờ giấy bạc vẫn nằm trên bàn tay chị run run… chị khóc. Khóc rất to khóc tức tưởi... Mọi người ngơ ngác nhìn tôi rồi cùng nhìn chị ấy... những ánh mắt như dò hỏi... Cuối cùng thì hai đồng tiền đã nói hộ tất cả.

Mọi người trong khoa phòng kẻ nhiều người ít... lần lượt đưa cho chị. Chị ngơ ngác rồi nghẹn ngào chẳng nói được gì… bàn tay chị run run cầm nắm những đồng tiền nhân nghĩa... có đồng chẵn có đồng lẻ có đồng vẫn còn chưa kịp vuốt phẳng.

Ai cũng cầu mong cho chú bé sống mà không để lại di chứng.

- Hà Nội 30/12/2007-

More...

Chữ NHẪN

By



Chữ Nhẫn được kết hợp bởi bộ đao (  ) ở trên và bộ tâm ( ) ở dưới. Người xưa lấy hình ảnh rất đơn giản ấy để nói lên đức tính nhẫn nại chịu đựng của con người. Hiểu một cách nôm na là khi đao đè lên tim mình (có thể đến ứa máu) nhưng mình vẫn có thể chịu đựng để vượt qua... khi ấy bản thân bắt đầu rèn luyện được đức Nhẫn.

Người xưa nói: Luyện tính "nhẫn" như lúc nào cũng có lưỡi dao đè lên người là vậy.  "Nhẫn" có nghĩa là biết lắng nghe biết tiếp thu ý kiến của người khác để điều chỉnh hành vi.  "Nhẫn" là nhịn sẵn lòng: nhẫn một tý để đỡ sinh chuyện nhẫn nại nhẫn nhịn nhẫn nhục.  Nhẫn nại: bền bỉ chịu khó chịu khổ kiên trì theo đuổi đến cùng công việc đã đặt ra nhẫn nại học tập biết nhẫn nại chịu khó chịu khổ trong rèn luyện.   "Nhẫn" còn có ý là chịu dằn lòng xuống để tránh bực tức cãi vã: "Nhẫn nhịn nhiều chứ nếu không thì sinh chuyện rồi"... 

Ai cũng biết câu chuyện Việt Vương Câu Tiễn nằm gai nếm mật là tấm gương tiêu biểu cho đức Nhẫn ấy. Nói rộng ra hơn trong cuộc sống hàng ngày khi vấp phải những khó khăn nếu biết nhẫn nại kiên trì ắt sẽ thành công. 

Ý nghĩa của chữ NHẪN 

Từ xa xưa tổ tiên ta muốn các thế hệ con cháu luôn luôn nhớ và thực hiện đức tính "nhẫn" đã nghĩ ra cách dùng kim loại chế tác một cái vòng xỏ vào ngón tay để luôn nhắc nhở ta rèn luyện lời ăn tiếng nói hành vi cử chỉ sao cho tốt đẹp gọi đó là cái "nhẫn". 

Thuở ban đầu đời sống kinh tế còn thấp nên nhẫn được làm bằng đồng thau rồi tiến đến bằng bạc và thế kỷ XX làm bằng vàng hoặc nhẫn khảm đá quý.  Có điều đáng nói là không ít người chỉ coi chiếc nhẫn là đồ trang sức nhằm tô thêm vẻ đẹp sự sang trọng cho con người mà quên hẳn thậm trí không biết đó là một thực thể để nhắc ta luôn luôn nhớ đến việc thực thi đức "nhẫn" trong đời sống hàng ngày.  Đối với chiếc nhẫn cưới cũng là thế! 

"Chữ NHẪN trên đầu ngọn cây" 

Câu này đã được nghe lâu lắm rồi trong quá khứ. Quả thật không ngoa. Trong nhà Phật đây là một pháp môn rất thù thắng không mấy ai dễ gì làm được. Sự nhẫn nhục có thể mất hết cả một đời người để luyện tập. Khi đạt được rồi thì mới thấy cái huyền diệu của nó mới ngộ ra được cái gì gọi là "ta" và cái gì gọi là an lạc tư tâm và cho mọi người.  

Có lúc người ta cho rằng nhẫn nhịn là một sự thiệt thòi và nhục nhã…cũng đúng trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên sự nhẫn nhịn ở đây phải tùy trường hợp cái mà gọi là tuy duyên. Đó đòi hỏi sự sáng suốt quyết đoán để đưa cái ích lợi cho mình và người… 

Nếu người chẳng là ai và ta chẳng là ai thể cái gì gọi là nhẫn cái gì gọi là vinh và cái gì gọi là nhục. Chỉ có những người trải nghiệm việc này thì tự cảm nhận được thôi.


Một tư liệu từ một người bạn trên net:
Cụ Tử An Trần Lê Nhân viết tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp:


Có khi nhẫn để yêu thương
Có khi nhẫn để liệu đường lo toan
Có khi nhẫn để vẹn toàn
Có khi nhẫn để chớ tàn hại nhau.


(lượm lặt biên tập và viết lên để TỰ KHUYÊN MÌNH)

 

More...